• Loading...
 
Lịch sử Đoàn TNCS Hồ Chí Minh - Chương II
Ngày xuất bản: 20/03/2017 10:04:00 SA
Lượt xem: 343

Tuổi trẻ Yên Bái trong công cuộc kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954)

               I- Tuổi trẻ Yên Bái đi đầu trong nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng chính quyền cách mạng non trẻ (1946 - 1947).

Cách mạng Tháng Tám thành công đã mở ra một kỷ nguyên mới cho một dân tộc đã gần hai thế kỷ bị giày xéo dưới gót giày của thực dân xâm lược. Ngày 2-9-1945, tại quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước niềm hân hoan của hàng triệu đồng bào cả nước. Tưởng rằng từ đây, dân tộc Việt Nam sẽ được sống trong hòa bình, hưởng trọn niềm vui của một đất nước tự do, độc lập. Nhưng niềm vui ấy chưa được bao lâu thì nhân dân ta lại phải đối mặt với chồng chất những khó khăn - hậu quả của chiến tranh để lại. Đất nước Việt Nam vốn đã nghèo nàn, nay càng trở nên tiêu điều xơ xác sau một cuộc chiến dài, để lại hậu quả là nạn đói năm 1945 gây những tổn thất nghiêm trọng, nền tài chính quốc gia kiệt quệ, cơ sở hạ tầng thiếu thốn, hơn 80% dân số mù chữ và đặc biệt kẻ thù lợi dụng sự non trẻ của chính quyền cách mạng đã ồ ạt tấn công, đe doạ.

Theo sự thoả thuận của các nước Đồng minh, tại Hội nghị Pôxđam, tháng 7-1945, Tưởng Giới Thạch - tay sai của đế quốc Mỹ được phép đem quân vào miền Bắc Đông Dương với danh nghĩa tước vũ khí quân Nhật. Từ vĩ tuyến 16 trở vào do quân Anh giải giáp. Từ cuối tháng 8 đến đầu tháng 9 năm 1945, 20 vạn quân Tưởng gồm 4 quân đoàn, do tướng Lư Hán chỉ huy lần lượt kéo vào chiếm đóng miền Bắc nước ta. Nhân cơ hội này, nhiều đảng phái phản động cũng thi nhau nổi dậy chống phá như bọn Việt quốc, Việt cách cấu kết chặt chẽ với bọn mật vụ của Pháp, của Tưởng phá hoại chúng ta về mọi mặt. Tất cả Tưởng, Mỹ, Anh, Pháp đều núp dưới danh nghĩa giải giáp quân đội Nhật của quân Đồng minh hòng âm mưu tiêu diệt Đảng, bóp chết chính quyền cách mạng, giúp bọn phản động trong nước lập chính quyền phản động tay sai ở miền Bắc (Tưởng - Mỹ) hoặc dựng lại chính quyền tay sai ở miền Nam (Anh - Pháp).

Trước những khó khăn thử thách đó, ngay từ những ngày đầu, Đảng ta đã xác định phải tập trung mũi nhọn đấu tranh vào kẻ thù chính của dân tộc ta lúc này là thực dân Pháp xâm lược. Trong Chỉ thị kháng chiến kiến quốc của Trung ương Đảng ngày 25 tháng 11 năm 1945 đã xác định rõ nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của nhân dân ta là: "Củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống cho nhân dân". Đảng cũng xác định, muốn thực hiện được nhiệm vụ ấy phải tăng cường khối đoàn kết toàn dân, hòa hợp dân tộc; xây dựng và củng cố các mặt chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa - xã hội và ngoại giao theo phương châm vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, vừa chống giặc ngoại xâm, vừa chống "giặc dốt", "giặc đói".

Nằm trong tình hình khó khăn chung của cả nước, chính quyền và nhân dân Yên Bái cũng phải đối mặt với những nguy nan. Cũng như hầu hết các tỉnh miền Bắc khác, Yên Bái tiếp tục bị nạn đói đe doạ nghiêm trọng đặc biệt là các xã ven sông và các ngòi lớn bị lũ lụt; mùa màng, tài sản của nhân dân bị thiệt hại nặng nề. Khi chính quyền cách mạng tiếp quản tỉnh lỵ, kho bạc và các loại hàng hóa, lương thực hầu như đều trống rỗng. Gần 90% dân số mù chữ. Cùng với nó là sự hoành hành của các tập tục, tệ nạn xã hội như phần lớn các tỉnh miền núi khác. Đó là tệ nạn trồng, sử dụng và buôn lậu thuốc phiện, nạn mê tín dị đoan và các phong tục tập quán lạc hậu rất phổ biến. Trong khi đó, Uỷ ban Cách mạng Lâm thời ở các huyện, châu chưa kịp củng cố. Trừ khu căn cứ cách mạng và những cơ sở cách mạng có trước khởi nghĩa Tháng Tám, chính quyền dân chủ nhân dân đã được xây dựng, còn ở những vùng mới giải phóng như Văn Bàn, Than Uyên chính quyền dưới cơ sở mới thay đổi tên gọi các ủy viên, hầu hết vẫn là các chức dịch cũ. Công việc cách mạng dồn dập, bề bộn mà cán bộ, đảng viên lại thiếu kinh nghiệm quản lý kinh tế và quản lý xã hội.

Ngày 26-8-1945, ta giành được chính quyền toàn tỉnh thì ngày 28-8-1945, quân Tưởng và bọn Việt Nam Quốc dân đảng từ Lào Cai kéo xuống thị xã, đồng thời một cánh quân khác từ Hàm Yên (Tuyên Quang) tràn sang Yên Bình. Bất chấp tất cả, chúng ngang nhiên yêu cầu ta giải tán chính quyền cách mạng, nộp lại vũ khí và đòi ta đáp ứng những yêu sách hết sức vô lý như cấp một số lượng lớn lương thực, thực phẩm. Riêng ở Yên Bình, quân Tưởng đòi mỗi ngày ta phải nộp cho chúng 2 tấn gạo. Chúng ra sức sách nhiễu, gây nên tình trạng lộn xộn, mất trật tự trị an. Quân Tưởng còn làm chỗ dựa cho thương nhân người Hoa đầu cơ tích trữ lũng đoạn thị trường và cho bọn Việt Nam Quốc dân đảng phản bội điên cuồng chống phá cách mạng. Chúng lập ra Tỉnh Đảng bộ Quốc dân Đảng ở Yên Bái do tên Vũ Nguyên Hải làm chủ nhiệm, tổ chức bộ máy chính quyền phản động ở thị xã và một số xã thuộc các huyện Trấn Yên, Than Uyên, Văn Bàn, Lục Yên... Một mặt, chúng lợi dụng uy tín của nhà yêu nước Nguyễn Thái Học để ra sức tuyên truyền, lừa bịp nhân dân, nhất là tầng lớp thanh niên chưa thật hiểu sâu sắc về cách mạng tham gia vào các tổ chức phản động do chúng lập ra như "Việt Nam quốc gia thanh niên đoàn", "Việt Nam kỳ hào hội", "Quốc dân quân", "Ty liêm phóng", "Ty hiến binh", ngày đêm lùng bắt để thủ tiêu và tống tiền cán bộ, các hội viên cứu quốc và một số quần chúng tốt. Chúng còn tổ chức tấn công lực lượng vũ trang của ta đóng tại đồn điền Blăng (Le Blame - Nam Cường) sát hại đồng chí Nguyễn Phúc – Phó Chủ tịch ủy ban Nhân dân Cách mạng Lâm thời kiêm Bí thư Tỉnh uỷ Yên Bái và một số cán bộ của ta. Dưới sự lừa phỉnh của chúng, một số ít thanh niên dân tộc, do chưa được giác ngộ cách mạng triệt để đã tham gia vào tổ chức "Đội thanh niên quân chính" do chúng lập ra ở thị xã Yên Bái với mục đích kiểm soát ngặt nghèo mọi hoạt động đi lại của dân chúng, không cho ai ra khỏi địa bàn - kể cả đi lấy củi hoặc ra sông gánh nước. Tháng 4 năm 1946, chúng còn bắt một số thanh niên nòng cốt ở thị xã Yên Bái trong đêm lửa trại nhân ngày Giỗ tổ Hùng Vương.

Tận mắt chứng kiến những khó khăn của chính quyền cách mạng non trẻ, tuổi trẻ Yên Bái đã đi đầu cùng với tuổi trẻ cả nước đồng tâm hiệp lực với các tầng lớp nhân dân không ngại khó, ngại khổ từng bước khắc phục hậu quả chiến tranh, bảo vệ và xây dựng chính quyền cách mạng.

Để đối phó với nạn thù trong giặc ngoài, Đảng ta đã có những đối sách sáng suốt nhằm giảm bớt kẻ thù, tập trung vào kẻ thù chính. Đó là việc ký Hiệp ước sơ bộ ngày 6-3-1946. Bằng động thái này, Chính phủ Pháp đã phải công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một nước tự do có Chính phủ, nghị viện, quân đội, tài chính riêng nằm trong Liên bang Đông Dương và khối Liên hiệp Pháp. Chính phủ Pháp còn cam kết thừa nhận kết quả cuộc trưng cầu dân ý về vấn đề thống nhất Việt Nam; được đưa 15.000 quân lính vào miền Bắc Việt Nam thay thế quân Tưởng, trong thời gian 5 năm phải rút hết quân ra khỏi Việt Nam, hai bên chấm dứt xung đột để đàm phán chính thức. Đối sách này đã giúp cho Chính phủ Việt Nam thoát khỏi tình thế "ngàn cân treo sợi tóc" thể hiện chủ trương "hòa để tiến" của Trung ương Đảng và Bác Hồ, tạo điều kiện để toàn dân tập trung vào khắc phục những khó khăn trước mắt.

Theo sự chỉ đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm giải quyết "giặc đói", "giặc dốt" đang hoành hành, cả nước tiến hành "tuần lễ vàng", "hũ gạo cứu đói" và phong trào xoá mù diễn ra sôi nổi trên cả nước. Yên Bái cũng hòa trong không khí ấy mà đi đầu là lực lượng trẻ. Thanh niên Yên Bái tích cực tham gia phong trào tăng gia sản xuất, thực hiện "tấc đất tấc vàng". Hàng trăm đội sản xuất thanh niên được thành lập. Cùng với nhân dân toàn tỉnh, họ ngày đêm thay nhau lao động miệt mài trên đồng ruộng với tinh thần hăng say, phấn chấn. Những diện tích đất hoang hóa, vùng đồi cằn cỗi và số ruộng bỏ hoang đã được tận dụng triệt để. Nhiều đội thanh niên tự nguyện nhận nhiệm vụ khai hoang vỡ đất trồng rau, đậu, cà... để giải quyết nạn đói trước mắt. Thanh niên còn đi xuống những vùng sâu, vùng xa vận động bà con giúp đỡ, ủng hộ đồng bào dưới xuôi lên Yên Bái kiếm sống được chính quyền phân bổ về các địa bàn dân cư. Bằng tấm lòng của mình, nhân dân Yên Bái đã tận tình giúp đỡ những người bị đói về mọi mặt, từ nơi ăn chốn ở đến gạo, tiền, thậm chí còn nhường cả ruộng đất để bà con tăng gia sản xuất với truyền thống tốt đẹp bao đời của dân tộc Việt Nam "lá lành đùm lá rách", "nhường cơm sẻ áo".

Không khí tăng gia sản xuất tự giác đi đôi với tiết kiệm lương thực theo các hình thức "ngày đồng tâm nhịn ăn", "hũ gạo cứu quốc" cùng với việc khuyên góp lương thực để san sẻ cho nhau đã trở thành ngày hội đoàn kết các dân tộc trong toàn tỉnh. Thiếu nhi các xã, bản với băng cờ trống ếch rộn ràng cất cao những bài ca cách mạng để góp phần cổ vũ cho phong trào chống giặc đói. Các đội thanh niên khai hoang, đội sản xuất thanh niên sáng và chiều đi theo hàng ngũ mang theo khẩu hiệu, cờ rồi phát loa báo cáo thành tích lao động cho nhân dân biết, làm cho không khí sản xuất ngày càng dâng cao. Với lòng nhiệt tình và hăng say không quản ngại khó khăn, chỉ trong một thời gian ngắn, nhân dân và tuổi trẻ Yên Bái đã chiến thắng giặc đói ngay trên mảnh đất quê hương mình. Diện tích canh tác và sản lượng lương thực đều tăng cao, đời sống từng bước ổn định, lòng tin của nhân dân vào cách mạng được củng cố vững chắc.

Hoà trong không khí nô nức của ngày toàn quốc thực hiện "Quỹ độc lập", và "Tuần lễ vàng" hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và sắc lệnh của Chính phủ, Yên Bái tích cực, phấn khởi góp quỹ cứu nước. Thanh niên, với sức trẻ và lòng nhiệt tình của mình đã xung phong đi đầu vận động mọi tầng lớp nhân dân tích cực hưởng ứng, giương cao khẩu hiệu "Hãy đem vàng rửa hận cho Tổ quốc", "Hãy đem vàng đổi lấy tự do". Các em thiếu niên truyền nhau những câu ca tuyên truyền, cổ động:

"Nhà còn thì của sẽ còn

Nhà tan nước mất vàng son làm gì?"

Hay:

"Đem vàng đổi súng cối xay

Bắn tan quân giặc xây đài vinh quang"

đã khơi dậy lòng yêu nước và nhiệt tình cách mạng của nhân dân toàn tỉnh. Nhiều chị em phụ nữ không ngần ngại tháo bỏ những vòng, nhẫn, hoa tai là kỷ vật, của hồi môn của mình đóng góp cho cách mạng. Cảm động nhất là hình ảnh những em bé rút những đồng tiền tiết kiệm trong ống của mình góp phần vào Quỹ độc lập; những cụ già chống gậy mang số tiền dành dụm ít ỏi để ủng hộ cách mạng... Chỉ trong một ngày, ở phố Cát Tường (Yên Bình), 50 gia đình đã đóng góp 0,7 lạng vàng, 20 lạng bạc, gần 1000 đồng tiền Đông Dương; nhân dân khu Vần quyên góp được 2,1 lạng vàng, 20 lạng bạc và 12.016 đồng tiền Đông Dương. Tổng kết "Tuần lễ vàng", thanh niên và các tầng lớp nhân dân toàn tỉnh đã ủng hộ gần 20 lạng vàng, 300 lạng bạc và 3 triệu đồng tiền Đông Dương cho Chính phủ(1).

Cùng với các biện pháp cấp bách để ổn định đời sống nhân dân; ủng hộ tiền, vàng cho Chính phủ, các cấp chính quyền và đoàn thể quần chúng trong tỉnh đã đẩy mạnh công tác xây dựng đời sống mới, bài trừ những hủ tục lạc hậu, những tệ nạn xã hội, chú trọng công tác giữ gìn an ninh, trật tự, chống những hành động khiêu khích phá hoại của bọn phản động. Là lực lượng trẻ có sức khoẻ và hiểu biết, giàu nhiệt tình và khí thế, thanh niên là tầng lớp được Tỉnh ủy rất chú ý trong khi triển khai công tác này. Lực lượng vũ trang ở các địa phương được xây dựng và củng cố. Ngoài trung đoàn Phú Yên, nhiều lực lượng vũ trang được tổ chức lại ở các địa phương. Các đội du kích, dân quân tự vệ được phát triển rộng khắp.

Đầu tháng 9-1945, ta chuyển các cơ quan của tỉnh và đại bộ phận lực lượng vũ trang sang bên hữu ngạn sông Hồng; bố trí các đơn vị vũ trang hình thành thế bao vây, ngăn chặn không cho quân Tưởng mở rộng phạm vi hoạt động, do đó đã tránh được xung đột, hạn chế đến mức thấp nhất sự phá hoại của chúng.

Song song với phong trào diệt "giặc đói" và ổn định trật tự xã hội, cuộc chiến chống "giặc dốt" của tuổi trẻ và nhân dân Yên Bái cũng diễn ra sôi nổi. Ban Thanh vận của tỉnh trực tiếp chỉ đạo các cơ sở Đoàn trong toàn tỉnh, Ban đã chọn một đội ngũ giáo viên bình dân học vụ trẻ gồm hàng trăm người toả đi các nơi trong tỉnh để tổ chức các lớp học chữ Quốc ngữ. Nhớ lời Bác Hồ nhắc nhở: "Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu" và niềm tin cũng như sự ủy thác của Người cho thanh niên trong trận chiến chống "giặc dốt": "Công việc này (chống giặc dốt) mong anh chị em thanh niên sốt sắng giúp sức", tuổi trẻ Yên Bái đã xung kích đi đầu trong phong trào này theo tinh thần "người biết dạy người chưa biết", "người biết nhiều dạy người biết ít". Nhiều địa phương còn chủ động mở các lớp bồi dưỡng giáo viên ngắn ngày để phục vụ yêu cầu giảng dạy cho nhân dân. Những con đường đi xuống những thôn bản xa xôi phải vượt qua núi cao, khe sâu đã in đậm dấu chân của thanh niên. Khó khăn nhất là động viên lực lượng dân tộc thiểu số vốn đầy rẫy những tập tục lạc hậu đến lớp học "cái chữ Bác Hồ", thanh niên cũng không hề quản ngại. Họ đi đến từng nhà, vận động từng người, một ngày không được thì hai ngày, ba ngày... để tập hợp thành các lớp học. Lớp học được tận dụng tổ chức ở mọi nơi như ở chợ, đình, chùa, điếm canh và thậm chí ở tư gia từng nhà... Lớp đông thì vài ba chục người, lớp nhỏ thì vài ba người đủ cả gái trai, già trẻ. Đêm đến, ánh đèn dầu toả sáng khắp các gia đình, tiếng đánh vần, đọc chữ mang lại một không khí náo nức, sôi động, mới mẻ. Thế là chỉ trong vòng 1 năm, Yên Bái đã có nhiều người biết đọc, biết viết. Năm 1947, trên toàn tỉnh đã có 1.200 học sinh tiểu học, mở được một lớp trung học, 600 lớp bình dân học vụ với gần 800 giáo viên và hơn 8000 người được cấp giấy chứng nhận xoá mù.

Thành công bước đầu trong cuộc chiến chống "giặc dốt" của chính quyền và nhân dân Yên Bái không thể không kể đến công lao to lớn của lực lượng trẻ tuổi, góp phần to lớn vào công cuộc bảo vệ và xây dựng chính quyền non trẻ những ngày đầu thành lập.

Trong niềm phấn khởi, tự hào đã chiến thắng hai kẻ thù lớn của dân tộc là "giặc dốt" và "giặc đói", 6-1-1946, cả nước bước vào ngày hội Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Để ủng hộ cho không khí của ngày bầu cử, các ban bầu cử của tỉnh Yên Bái đã bầu ra một đội thanh niên làm công tác tuyên truyền, bảo vệ cho ngày hội. Lần đầu tiên được cầm lá phiếu để bầu ra cơ quan quyền lực cao nhất của mình, tuổi trẻ và nhân dân Yên Bái vô cùng phấn khởi. Mặc dù bị bọn phản động trong và ngoài nước ra sức phá hoại nhưng tại các khu vực bầu cử, không khí đông vui như này hội lớn, khắp nơi đều giăng cờ, kết hoa rực rỡ. Mọi người đều nhận thức đây là quyền lợi thiêng liêng và cũng là trách nhiệm của người dân một nước độc lập. Nhiều cụ già tuổi cao sức yếu cũng chống gậy đi bầu. Nhiều nơi, các cử tri đi bầu đạt 100%. Trong cuộc bầu cử này, tỉnh Yên Bái đã bầu được hai đại biểu là người dân tộc ít người vào Quốc hội khoá I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đó là ông Trần Đình Khánh và ông Cầm Ngọc Lương(1).

Thắng lợi của cuộc bầu cử ở Yên Bái nói riêng cũng như trên phạm vi cả nước nói chung đã giáng một đòn mạnh mẽ vào âm mưu chia rẽ phá hoại của bọn phản động trong và ngoài nước; góp phần nâng cao uy thế và vị trí của chính quyền cách mạng, thể hiện sức mạnh đoàn kết của các dân tộc anh em, giáo dục lòng yêu nước, ý thức làm chủ và nghĩa vụ công dân của cử tri.

Để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ cách mạng đề ra, lãnh đạo tỉnh tập trung vào việc chỉ đạo công tác phát triển Đảng và xoá bỏ hoàn toàn bộ máy chính quyền cũ, xây dựng bộ máy chính quyền mới của nhân dân. Nhiều quần chúng tích cực trưởng thành trong các phong trào kháng Nhật và khởi nghĩa Tháng Tám, trong đó một lực lượng lớn là thanh niên được lựa chọn tham gia lớp bồi dưỡng đối tượng Đảng mang tên "lớp Tháng Tám" và sau đó được kết nạp vào Đảng. Hệ thống chính quyền các cấp nhất là ở các địa phương được hoàn thiện dần từng bước. Từ cuối năm 1945 đến giữa năm 1946, qua hai đợt củng cố, kiện toàn theo hướng dẫn của tỉnh, hầu hết các xã, thôn đã lựa chọn được những người tích cực trong phong trào cách mạng để đưa vào bộ máy lãnh đạo ở các địa phương thay thế các chức dịch cũ. ủy ban Hành chính Kháng chiến tỉnh Yên Bái lúc này được tách thành 2 ủy ban là: Uỷ ban Hành chính do ông Lê Hữu Chỉnh làm Chủ tịch và Uỷ ban Kháng chiến do ông Trần Đình Khánh làm Chủ tịch.

Song song với công tác xây dựng Đảng, củng cố chính quyền các cấp, mặt trận Việt Minh và các đoàn thể quần chúng không ngừng được củng cố, mở rộng ra khắp các địa bàn, thu hút đông đảo hội viên, thanh niên tham gia. Hàng ngàn thanh niên trong đó có cả một số đông nữ thanh niên hào hứng gia nhập các đoàn thể cứu quốc, lực lượng vũ trang, tự vệ... hàng ngày say mê luyện tập quân sự dưới sự chỉ huy của đồng chí Nguyễn Văn Chí (tức Chí Thứ), lãnh đạo Ban Võ trang tỉnh.

Cũng trong thời gian này, tuổi trẻ và nhân dân Yên Bái vui mừng được đón đồng chí Võ Nguyên Giáp thay mặt Trung ương Đảng, Chính phủ lên thăm và làm việc. Tại cuộc mít tinh, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã thân mật nói chuyện và động viên thanh niên cùng các tầng lớp nhân dân Yên Bái tăng cường hơn nữa khối đoàn kết toàn dân, phát huy hơn nữa những thành tích đã đạt được. Thái độ ân cần và những lời khen ngợi của đồng chí Võ Nguyên Giáp đã động viên tinh thần to lớn đối với thế hệ trẻ và nhân dân Yên Bái.

Như vậy, ngay sau niềm vui của ngày độc lập, tuổi trẻ Yên Bái đã cùng với tuổi trẻ và nhân dân cả nước bước vào cuộc chiến đấu mới: Bảo vệ và xây dựng chính quyền cách mạng non trẻ vừa mới ra đời. Công cuộc chiến đấu chống giặc dốt, giặc đói và củng cố chính quyền ở Yên Bái đã thu được những thành công, ghi dấu lòng nhiệt tình yêu nước của thanh niên và các tầng lớp nhân dân Yên Bái. Trong nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng chính quyền non trẻ, tuổi trẻ Yên Bái luôn giữ vai trò xung kích đi đầu đúng như lời dạy của Hồ Chủ tịch:

"Đâu cần thanh niên có

Đâu khó có thanh niên".

                II- Tuổi trẻ Yên Bái trong những năm đầu của cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ chống thực dân Pháp xâm lược (1947 - 1949).

Phản bội Hiệp định sơ bộ ngày 6-3-1946 và Tạm ước ngày 14-9-1946 ký với ta, thực dân Pháp liên tiếp tấn công, khiêu khích nhiều nơi ở Hà Nội, Hải Phòng, Lạng Sơn... Chúng thể hiện rõ dã tâm muốn cướp nước ta một lần nữa. Trước tình hình hết sức nghiêm trọng đó, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp mở rộng trong hai ngày tại Vạn Phúc (Hà Đông) quyết định phát động toàn dân cầm vũ khí đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược, bảo vệ nền độc lập, tự do vừa mới giành được.

Ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Người nói: "Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa. Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ... Hỡi đồng bào! Là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc"(1).

Lời kêu gọi của Bác Hồ là tiếng gọi của non sông, là hồi kèn xung trận cho toàn dân tộc đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược.

Ngay từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến, Đảng ta đã xác định đây là cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh sinh bởi thế trong cuộc họp ngày 22 tháng 12 năm 1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã vạch ra đường lối của cuộc kháng chiến trên tất cả các mặt chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa.

Để nhân dân trong toàn tỉnh, đặc biệt là ở các huyện vùng sâu, vùng xa hiểu được tính chất của cuộc kháng chiến và chủ trương đường lối của ta, Ban Chấp hành Tỉnh Đảng bộ Yên Bái đặc biệt chú trọng đến công tác tuyên truyền chính trị. Tỉnh đã thành lập 3 đội tuyên truyền gồm phần lớn là thanh thiếu niên, lực lượng trẻ xung phong đi các làng xã dùng hình thức ca kịch, nói chuyện để phổ biến chủ trương chính sách của Đảng và Chính phủ, nói rõ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta sẽ lâu dài, gian khổ, hy sinh nhưng cuối cùng nhất định sẽ giành thắng lợi. Bằng lòng yêu nước và nhiệt tình của tuổi trẻ, các đoàn viên, thanh thiếu niên Yên Bái đã làm rất tốt công việc tuyên truyền cổ động này, giúp cho nhân dân toàn tỉnh đều thông suốt đường lối của Đảng, giúp cho sự thống nhất nhận thức, ý chí và hành động của toàn Đảng bộ, lực lượng vũ trang và nhân dân.

Trong tình hình chung đó của cả nước, cuối tháng 12-1946, thực dân Pháp từ Phong Thổ (Lào Cai) tràn xuống lấn chiếm huyện Than Uyên. Vừa đặt chân đến đây chúng đã tiến hành ngay công tác bắt phu, bắt lính, tuyển mộ nguỵ quân, thành lập nguỵ quyền, cho quân đi lùng bắt những người kháng chiến. Chúng còn tổ chức những cuộc hành quân thăm dò ra vùng tự do ta nhưng ngay lập tức vấp phải sự kháng cự quyết liệt của các đơn vị bộ đội phối hợp với dân quân du kích.

Tháng 1 năm 1947, Bộ Tư lệnh khu 10 quyết định mở mặt trận Tây Tiến nhằm mục đích ngăn chặn quân Pháp đánh lấn vào vùng tự do của ta, thu hẹp phạm vi chiếm đóng của chúng. Nhận được Chỉ thị của Trung ương, tuổi trẻ Yên Bái hăng hái gia nhập lực lượng dân quân tự vệ, lực lượng vũ trang, tích cực kết hợp cùng với Trung đoàn 92 (chủ lực Quân khu 10) tấn công địch ở Kim Nọi (Than Uyên), Khau Cọ, Dương Quỳ (Văn Bàn), ít Oong, Quang Huy (Sơn La) gây cho địch một số thiệt hại.

Những thắng lợi ban đầu trong công cuộc tiêu diệt kẻ thù là nguồn động viên tinh thần to lớn đối với nhân dân và tuổi trẻ Yên Bái để họ sẵn sàng bước vào cuộc kháng chiến. Lòng yêu nước và nhiệt tình cách mạng của cán bộ và chiến sĩ trẻ trong các đơn vị vệ quốc quân, du kích, tự vệ được giữ vững và không ngừng nâng cao. Lòng yêu nước biểu lộ mạnh mẽ qua khí thế sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì Tổ quốc.

Tháng 4-1947, trong tình thế chung trên các chiến trường địch nắm thế chủ động, Đảng ta chủ trương triệu tập Hội nghị Cán bộ Thanh vận Trung ương bàn về công tác thanh niên tại Việt Bắc. Hội nghị thảo luận sôi nổi và đi đến kết luận: "Nhiệm vụ thiết thực của thanh niên trong thời kỳ này là tham gia bộ đội, dân quân để tác chiến, đoàn kết các tầng lớp thanh niên ra cứu nước". Tháng 9-1947, Bác Hồ gửi thư cho thanh niên cả nước, Người nêu lên những nhiệm vụ quan trọng trước mắt của thanh niên và kêu gọi thanh niên nỗ lực phấn đấu để đóng góp cho sự nghiệp cứu nước, đánh thắng kẻ thù xâm lược. Vào thời điểm này, tại Việt Bắc, Hội nghị Cán bộ Thanh vận các tỉnh Bắc Bộ đã được triệu tập để bàn việc thực hiện lời dạy của Bác trong thư gửi thanh niên và kết luận của Hội nghị Cán bộ Thanh vận nêu trên.

Ngay trong đợt tiến công đầu tiên đã vấp phải sự kháng cự của ta, địch tạm dừng những cuộc tiến công. Từ đó cho đến tháng 9 năm 1947, chúng không có một hoạt động quân sự nào đáng kể. Tranh thủ thời gian này, Tỉnh ủy tập trung lãnh đạo xây dựng lực lượng mọi mặt để bước vào cuộc kháng chiến lâu dài mà ta biết rằng không thể nào tránh khỏi.

Ở những nơi trước đây bọn phản động Việt quốc chiếm đóng, ta khẩn trương lập lại chính quyền cách mạng, mở các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho ủy viên Uỷ ban Kháng chiến Hành chính huyện và xã; chỉnh đốn lại các ủy ban liên xã; kiện toàn lại các cơ quan chuyên môn của tỉnh như công an, canh nông, thông tin, giáo dục. Vì vậy, hiệu lực quản lý, điều hành của cơ quan chính quyền các cấp được nâng lên một bước. Để tăng cường, mở rộng khối đoàn kết dân tộc thống nhất, Tỉnh ủy quyết định thành lập các Ban Chấp hành Việt Minh cấp tỉnh và huyện; chỉ đạo đưa một số nhân vật thuộc tầng lớp trên của xã hội, có uy tín trong nhân dân tham gia công tác chính quyền và mặt trận; phân công các đồng chí Tỉnh ủy viên trực tiếp phụ trách công tác vận động quần chúng và làm Bí thư Huyện bộ Việt Minh; đôn đốc việc củng cố các đoàn thể cứu quốc và lập các hội vận động kháng chiến. Trong công tác xây dựng lực lượng chuẩn bị kháng chiến, Tỉnh ủy đặc biệt chú trọng đến tầng lớp thanh niên và coi đó là lực lượng chủ đạo cho cuộc kháng chiến. Đồng chí Vũ Tuân, Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái đã ký quyết định điều đồng chí Nguyễn Bá Nghiệp (Chi bộ nhất tiến Trấn Yên) về phụ trách công tác thanh niên của tỉnh. Công tác phát triển Đoàn Thanh niên Cứu quốc được Tỉnh ủy rất quan tâm. Theo báo cáo năm 1947 của Tỉnh ủy Yên Bái, thời gian này trên toàn tỉnh có 6.943 thanh niên cứu quốc và 140 thanh niên thuần tuý, tổng cộng gồm 7.083 đoàn viên. Tỉnh ủy còn tuyên truyền, động viên thanh niên tham gia các lực lượng vũ trang, sẵn sàng cho cuộc kháng chiến. Đến cuối năm 1947, số hội viên cứu quốc toàn tỉnh lên tới 3 vạn người, tăng gần 3 lần so với cuối năm 1946, trong đó phần đông là lực lượng trẻ. Tháng 5-1947, Ban dân quân của tỉnh được thành lập. Thanh niên toàn tỉnh được tập hợp thành tiểu đoàn cảnh vệ, các đội tự vệ, trung đội du kích được phát triển ở hầu khắp các xã, huyện. Nhiều nữ thanh niên cũng tình nguyện xung phong vào quân đội, còn lại tham gia lực lượng dân quân tự vệ.

Sau thời gian phát triển lực lượng, phần lớn thanh niên Yên Bái đã tham gia vào các tổ chức cứu quốc. Đến sát trước chiến tranh lan rộng, trên toàn tỉnh đã có trung đoàn 92, chủ lực của khu 10 (sau đổi thành E115), một tiểu đoàn cảnh vệ của tỉnh và hơn 2000 dân quân du kích và tự vệ. Các đơn vị vũ trang tập trung đã được bố trí ở các địa bàn xung yếu và sẵn sàng chiến đấu.

Còn lại chị em nữ thanh niên và một số nam thanh niên không đủ điều kiện tham gia các lực lượng vũ trang thì tham gia vào việc khai hoang, tích cực sản xuất nông nghiệp nhằm chuẩn bị về lương thực cho cuộc kháng chiến. Diện tích lúa nước được tăng cường, ngoài ra còn trồng thêm lúa mộ và lúa nương, đồng thời tiếp tục coi trọng các cây màu như ngô, khoai, sắn. Thanh niên trong các lực lượng vũ trang ngoài việc luyện tập quân sự hàng ngày cũng tích cực tăng gia sản xuất, ở những nơi có điều kiện còn lập trại tăng gia sản xuất để tự túc một phần lương thực, thực phẩm. Nhờ sự nỗ lực của tuổi trẻ và nhân dân toàn tỉnh, đến cuối năm 1947, toàn tỉnh đã trồng thêm được hơn 1000 mẫu lúa mộ, gần 3000 mẫu lúa nương. Trong thành quả đó có phần đóng góp không nhỏ của lực lượng thanh niên.

Từ những quyết tâm và cố gắng vượt bậc trên, toàn thể Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc Yên Bái sẵn sàng bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp với niềm tin tất thắng.

Sau khi chiếm được các địa bàn chiến lược quan trọng ở đồng bằng Bắc Bộ, đầu tháng 10-1947, thực dân Pháp đã sử dụng 20.000 quân, cùng các phương tiện chiến tranh hiện đại mở rộng cuộc tấn công ồ ạt lên Việt Bắc nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến và phần lớn bộ đội chủ lực của ta, dùng thắng lợi quân sự để thúc đẩy việc thành lập chính quyền bù nhìn toàn quốc, kết thúc chiến tranh, đặt lại ách thống trị thực dân lên nước ta. Mặt khác, đánh lên Việt Bắc, thực dân Pháp còn nhằm khoá chặt biên giới Việt - Trung, bao vây, ngăn chặn mối liên lạc giữa cách mạng nước ta với thế giới, phá căn cứ địa và khủng bố, uy hiếp tinh thần kháng chiến của dân tộc ta.

Ngày 2-10-1947, thực dân Pháp ồ ạt đánh chiếm Nghĩa Lộ, mấy ngày sau, Đại Lịch nằm trong lòng chảo bốn phía là đồn Pháp. Trước tình hình đó, chi bộ Đảng Đại Lịch do đồng chí Đào Tiến Lộc làm Bí thư quyết định thành lập một số đội du kích phục vụ kháng chiến trong đó tiêu biểu là đội thiếu nhi du kích Trung Kiên.

Để ngăn chặn sự mở rộng vùng chiếm đóng của thực dân Pháp, không cho chúng lợi dụng cơ sở vật chất của ta, theo Chỉ thị của Ban Thường vụ Trung ương Đảng, Tỉnh ủy đã chỉ đạo các cấp ủy chính quyền và đoàn thể vận động nhân dân sẵn sàng làm "vườn không nhà trống", cất giấu tài sản, làm kho dự trữ lương thực, thực phẩm, thực hiện việc tiêu thổ kháng chiến. Thanh niên là những người đi đầu trong công tác này. Không tiếc công, tiếc của, hàng vạn anh chị em thanh niên nhất là ở thị xã và các xã ven hai bên đường sắt đã phá sập các căn nhà hai tầng. 500 ngôi nhà ở thị xã Yên Bái đã "được" đánh sập hoàn toàn trong đó nhiều ngôi nhà được xây kiên cố. Đêm đến có nơi thanh niên đốt thuốc phá đường nhằm ngăn cản bước tiến của địch khi chiến sự lan rộng. Thực hiện lời Bác Hồ dạy: "Phá cho rộng, phá cho sâu, phá sao cho bọn Pháp không thể lợi dụng được. Một nhát cuốc của đồng bào cũng như một viên đạn bắn vào quân địch"(1) đúng như lời thơ của Tố Hữu đã miêu tả:

"Hì hà hì hục

Lục cục lào cào

Anh cuốc, em cuốc

Đá lở đất nhào

Nào anh bên trai

Nào em bên gái

Ta thi nhau thử

Ai tài hơn ai?"

Với khí thế ấy, chỉ trong một thời gian ngắn, thanh niên và nhân dân Yên Bái đã đắp ụ, làm chướng ngại vật chặn tất cả các ngả đường từ tỉnh xuống Phú Thọ, sang Tuyên Quang, đường thị xã vào Nghĩa Lộ... Yên Bái còn huy động hơn một vạn lượt người trong đó phần lớn là nam nữ thanh niên bóc toàn bộ đoạn đường sắt từ Văn Phú đến Bảo Hà, đánh sập hàng chục cầu lớn nhỏ trên địa bàn tỉnh. Thanh niên các huyện Yên Bình, Văn Chấn, Trấn Yên còn cùng nhân dân vót hàng chục vạn chông tre, nứa và cắm thành các bãi chông ở những nơi quân Pháp có thể nhảy dù.

Ngày 8-10-1947, quân Pháp từ nhiều hướng tiến đánh Nghĩa Lộ. Cánh quân thứ nhất từ Sơn La qua ít Oong, Nậm Khắt hợp với một toán quân khác từ Than Uyên sang Khau Phạ, Tú Lệ, Gia Hội xuống Nghĩa Lộ. Từ Quang Huy, địch chia thành hai mũi: Mũi thứ nhất theo hướng Bản Chải, Suối Chiến lên Đá Xô ra Vực Tuần; mũi thứ hai qua Mường Cơi lên đèo Đao chiếm Thượng Bằng La, sau đó đánh vào Cát Thịnh phối hợp với mũi thứ nhất vào chiếm Nghĩa Lộ, quân Pháp tiếp tục tấn công chiếm Hưng Khánh, Ngòi Lao, Thanh Bồng, Vân Hội, Đại Lịch, Bình Thuận, Âu Lâu.

Tại Văn Bàn, thực dân Pháp vừa ra sức củng cố các vị trí đã chiếm đóng vừa tổ chức các cuộc càn quét truy lùng cán bộ. Ngày 23-10, chúng bắt được đồng chí Nguyễn Hữu Minh (Minh Đăng), Bí thư Huyện ủy Văn Bàn và một số cán bộ khác đang trên đường đi công tác. Ngày 25-10, địch chiếm huyện lỵ. Ngày 27-10 chiếm Minh Lương, Tân An, sau đó chiếm Bảo Hà.

Lúc này, ở Yên Bái hình thành hai vùng: Vùng địch tạm chiếm và vùng tự do. Trong vùng tạm chiếm, thực dân Pháp xây dựng hệ thống đồn bốt dày đặc, ra sức bắt phu bắt lính, tổ chức nguỵ quân, thành lập ngụy quyền lập "Xứ Thái, xứ Nùng, tự trị". Thực dân Pháp bóc lột, vơ vét sức người, sức của của nhân dân ta và gây ra những vụ mâu thuẫn giữa các dân tộc, đồng thời chúng tổ chức mạng lưới do thám gián điệp, dò xét các hoạt động của ta và tung bọn phản động tay sai đi lùng bắt cán bộ và những người đi theo kháng chiến.

Đối với vùng sát địch, chúng thường tổ chức các cuộc càn quét cướp phá mùa màng tài sản của dân, tiến hành các cuộc tập kích úp các cơ quan của ta và những cuộc phục kích bắt cán bộ, bộ đội đi lẻ.

Vì đã có sự chuẩn bị về lực lượng cũng như xác định tinh thần từ trước, trước sự tấn công ồ ạt của thực dân Pháp, nhân dân Yên Bái không hề nao núng. Khi tiến công vào Yên Bái, thực dân Pháp đã vấp phải những khó khăn, cản trở về đường sá, giao thông, cơ sở vật chất và sự kháng cự của nhân dân. Trong những ngày địch tiến công, tuổi trẻ Yên Bái hăng hái phá đường, cắm chông cản bước chân của kẻ thù. Mặc dù chúng lùng bắt rất gay gắt song thanh thiếu niên trong lực lượng dân quân tự vệ vẫn kiên cường bám trụ; vừa mở rộng hoạt động gây khó khăn cho thực dân Pháp tiêu biểu là thanh niên trong các đội du kích Khau Phạ, Đá Xô, Thượng Bằng La, Hưng Khánh.

Một mặt khác, Tỉnh ủy tổ chức cho nhân dân sơ tán (trừ vùng đồng bằng Nghĩa Lộ) vào lán bí mật trong rừng, bảo vệ được tính mạng và tài sản của nhân dân; đưa hầu hết các nhân vật thuộc tầng lớp trên đang làm việc cho ta ra vùng tự do.

Ngày 20-11-1947, bọn Pháp kéo quân từ đồn Đồng Bồ ra chuẩn bị cho trận càn lớn. Đội du kích Đại Lịch đã phục kích chặn đánh chúng tại Đèo Din. Trong trận tập kích này có sự tham gia tích cực của thanh thiếu niên Yên Bái. Nhiều tấm gương tuổi trẻ đã anh dũng hy sinh tiêu biểu là thiếu niên Hoàng Văn Thọ(1) - Đội trưởng đội thiếu nhi du kích Trung Kiên. Được giao nhiệm vụ làm văn thư kiêm liên lạc, sau khi chuyển chỉ thị của xã bộ đến đội võ trang, Hoàng Văn Thọ nằng nặc đòi ở lại chiến đấu. Được sự đồng ý của đồng chí Hùng Sơn, Thọ ở lại và làm nhiệm vụ giật địa lôi. Khi bọn Pháp kéo đến, địa lôi nổ, những tên Pháp đi đầu rống lên, ngã vật xuống. Từ ven rừng, Thọ nhảy ra cướp khẩu tiểu liên trên tay một tên Pháp rồi leo lên taluy chạy vào rừng. Nhưng không kịp nữa rồi, một loạt đạn địch bắn theo làm Thọ ngã xuống, năm đó anh mới 16 tuổi.

Địch nhận ra Thọ là người cầm đầu nhóm trẻ em hoạt động kháng chiến, chúng chặt đầu cho vào sọt rồi treo lên gốc cây sâng bên đường, nhằm uy hiếp tinh thần, vừa cảnh cáo, vừa phục bắt cán bộ du kích. Sau khi Hoàng Văn Thọ hy sinh, Pháp bắt được Hoàng Văn Vinh (Hoàng Văn Vinh là Bí thư Đoàn Thanh niên Cứu quốc xã Đại Lịch, được ta gài vào làm phó lý để nắm tình hình bọn tề ngụy) đánh tra tấn rất dã man nhưng Hoàng Văn Vinh nhất định không chịu khai báo. Giặc mổ bụng, Hoàng Văn Vinh vẫn kẻ tội kể thù cho đến lúc tắt thở(1).

Tấm gương hy sinh anh dũng của thiếu niên Hoàng Văn Thọ và Hoàng Văn Vinh như một ngọn gió thổi bùng lên lòng căm thù và ý chí biến đau thương thành hành động cách mạng của tuổi trẻ và nhân dân Yên Bái tiến lên, bất chấp khó khăn, gian khổ và cả cái chết.

Đầu tháng 12-1947, tỉnh đưa hai đội vũ trang vào vùng địch tạm chiếm: Một đội vào Đại Lịch phối hợp hoạt động với các đội độc lập 514 và 524; một đội vào Y Can, Âu Lâu, Hưng Khánh phối hợp hoạt động với C522 (đều thuộc trung đoàn 115). Ngày 31-12-1947, lực lượng thanh niên du kích xã Chấn Thịnh phối hợp với C524 phục kích quân địch ở Mỵ, diệt 15 tên trong đó có 2 tên Pháp, bắt sống 20 tên.

Những chiến công nối tiếp chiến công ngay những ngày đầu của cuộc kháng chiến đã làm cho cán bộ, thanh niên, lực lượng vũ trang và nhân dân Yên Bái, đặc biệt là ở vùng địch tạm chiếm rất phấn khởi, tăng thêm quyết tâm chiến đấu, khẳng định sự đúng đắn của chủ trương chuyển từ kiểu tác chiến trận địa sang đánh du kích lâu dài với địch.

Về phía thực dân Pháp, trước sự chống trả quyết liệt của ta, chúng biết rằng không thể dễ dàng thực hiện được âm mưu chiến lược "đánh nhanh thắng nhanh" mà chúng đặt ra ban đầu.

Tháng 1-1948, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị mở rộng nhận định cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta đã giành được những thắng lợi quan trọng và đang chuyển sang thời kỳ cầm cự, giằng co với địch. Hội nghị vạch ra nhiều phương hướng và biện pháp lớn để phát triển chiến tranh du kích, chuẩn bị điều kiện chuyển sang hình thức tác chiến cao hơn, tăng cường củng cố khối đoàn kết toàn dân, xây dựng nền kinh tế - văn hóa phục vụ kháng chiến, đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng, chuẩn bị đưa Đảng ra hoạt động công khai.

Trước yêu cầu phát triển của tình hình mới, Trung ương Đảng quyết định xây dựng khu Tây Bắc thành căn cứ địa cách mạng vững chắc, tạo điều kiện tiến tới giải phóng nhân dân các dân tộc thoát khỏi ách thống trị của giặc. Thực hiện chủ trương này, Liên khu 10 (Tây Bắc) được thành lập. Bộ Tổng tư lệnh ra các chỉ thị, xác định một số nhiệm vụ cơ bản cho Liên khu là ra sức phát triển, củng cố cơ sở nhân dân; xây dựng lực lượng vũ trang, phát động cuộc chiến tranh du kích mạnh mẽ trong vùng địch; tích cực đào tạo cán bộ dân tộc địa phương; chú ý cải thiện từng bước đời sống đồng bào các dân tộc; phát động phong trào xung phong xây dựng căn cứ địa Tây Bắc.

Sau khi nhận Chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, tháng 2-1948, Hội nghị Tỉnh ủy và Hội nghị Cán bộ tỉnh Yên Bái trên cơ sở đánh giá toàn diện tình hình địch - ta đã quyết định phải khẩn trương đưa thêm cán bộ, lực lượng vào vùng địch tạm chiếm phối hợp với các đại đội độc lập phát triển cơ sở, phát động cuộc đấu tranh du kích.

Thực hiện chủ trương của tỉnh, thanh niên Yên Bái hăng hái tham gia các lực lượng vũ trang, gia nhập Ban Xung phong Quyết Tiến vừa được thành lập gồm lực lượng nòng cốt là đội vũ trang tuyên truyền của trung đoàn 115 và một số cán bộ, chiến sĩ người dân tộc vùng Nghĩa Lộ, Than Uyên và ít Oong (tỉnh Sơn La) nhận nhiệm vụ xây dựng cơ sở từ Nghĩa Lộ lên Than Uyên, sang ít Oong, qua Điện Biên Phủ. Thanh niên xung phong đi vào các vùng địch tạm chiếm, ngày đêm luyện tập quân sự, sẵn sàng đối phó với giặc. Nữ thanh niên ở lại vùng tự do, tham gia lực lượng dân quân tự vệ, tăng gia sản xuất, chuẩn bị mọi điều kiện cho cuộc kháng chiến lâu dài. Thanh niên còn tận dụng thời gian rỗi rãi để vận động tuyên truyền cách mạng cho các tầng lớp nhân dân trước thủ đoạn bắt thanh niên các dân tộc đi lính, xây dựng quân nguỵ của bọn thực dân.

Âm mưu "đánh nhanh, thắng nhanh" thất bại, từ đầu năm 1948, thực dân Pháp chuyển sang chiến lược đánh lâu dài, thực hiện chính sách "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt". Để thực hiện âm mưu này, chúng cho thành lập "xứ Thái tự trị" ở Tây Bắc, đưa tên phản động Đèo Văn Lân lên cầm đầu nhằm chia rẽ phong trào kháng chiến của ta. Mặt khác, chúng tổ chức thành lập Khu Quân sự Tây Bắc (SANO) gồm nhiều phân khu trực thuộc, dưới là các tiểu khu. Trên địa bàn Yên Bái, chúng thành lập phân khu Nghĩa Lộ gồm 4 tiểu khu: Nghĩa Lộ, Ba Khe, Gia Hội và Than Uyên (chỉ huy cả Văn Bàn), có tiểu đoàn Thái số 1 chiếm giữ; ở thượng huyện Lục Yên, địch lập 3 tiểu khu Bảo Hà, Nghĩa Đô và Phố Ràng, thuộc phân khu Lào Cai do tiểu đoàn số 2 chiếm giữ, tổng số quân địch ở 7 khu này khoảng 1.300 tên. Đến đầu tháng 3-1948, quân Pháp đã chiếm đóng 6.119/9.711 km2 đất đai và 8/14 vạn dân của toàn tỉnh, gồm toàn bộ 3 huyện Than Uyên, Văn Bàn, Trấn Yên và một phần thượng huyện Lục Yên.

Trước tình hình ấy, cuối tháng 3 năm 1948, Bộ Chỉ huy Liên khu 10 dùng 4 tiểu đoàn mở chiến dịch Nghĩa Lộ (còn gọi là chiến dịch Gia Hội – Quang Huy) hoạt động trên một địa bàn rộng lớn dài khoảng 200 km. Nắm được chủ trương của Trung ương, Tỉnh ủy Yên Bái triển khai kế hoạch trên toàn bộ lực lượng vũ trang của tỉnh và đặc biệt đặt niềm tin vào thế hệ trẻ - những đoàn viên Đoàn Thanh niên Cứu quốc. Không phụ lại niềm tin của Ban Chấp hành Tỉnh ủy, ngay từ những ngày đầu của chiến dịch, thanh niên Yên Bái đã hăng hái tham gia với tất cả lòng nhiệt tình, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc. Thanh niên đảm nhận những nhiệm vụ quan trọng nhất ở những vị trí điểm chốt, xông vào tận sào huyệt của địch. Tiêu biểu nhất là đội du kích Khau Phạ(1) đã phối hợp rất tích cực với C520 tấn công đồn Tú Lệ, làm tan rã đơn vị dõng gồm 27 tên, bắt tên chỉ huy, thu được một số vũ khí. Nhân dân Yên Bái còn nhớ mãi tấm gương đội trưởng Miễn, người thanh niên dũng cảm của núi rừng Yên Bái.             Trong lúc xông lên tấn công đồn giặc, chẳng may bị thương vào tay, máu ướt đầm vai áo, nhưng trái tim anh vẫn hừng hực ngọn lửa căm thù. Học tập người anh hùng La Văn Cầu, anh đề nghị đồng đội chặt tay cho mình. Không được đồng ý, anh nghiến răng, quên đi cái đau thể xác tiếp tục xông lên tiêu diệt kẻ thù. Máu thấm đỏ trên mỗi bước chân anh. Nhưng anh không thấy đau, chỉ thấy một lòng căm thù rừng rực. Nhờ có những người thanh niên như thế, ta đã giành những thắng lợi quan trọng như: Tiêu diệt 7 đồn địch, gọi hàng 163 lính nguỵ. Ta còn phục kích địch trên đường Gia Hội - Tú Lệ, diệt một số tên. ở Trạm Tấu, cán bộ chính trị ta cùng với quân của C524 xây dựng được cơ sở ở Tề - Suối - Láng, buộc tên thống lý người Mông phải cam kết để cán bộ ta hoạt động. ở vùng đồng bằng Nghĩa Lộ và vùng ngoài cán bộ, du kích ta hoạt động mạnh, đánh đồn Gốc Báng, buộc 32 lính khố đỏ phải hàng, giải thoát 132 người dân bị địch bắt. Các khu du kích Tú Lệ, Đá Xô dần hình thành. Trong khu du kích, chính quyền cách mạng được thành lập. Những kết quả thu được trong chiến dịch Nghĩa Lộ là nguồn cổ vũ, động viên tinh thần mạnh mẽ với những người chiến sĩ trẻ và mọi tầng lớp nhân dân Yên Bái, chuẩn bị khí thế cho những chiến dịch về sau.

Trên cơ sở của chiến dịch Nghĩa Lộ, đầu tháng 6-1948, bộ đội chủ lực Liên khu 10 mở đợt hoạt động ở Yên Bình xã, chủ động tấn công địch từ Bến Cóc lên Phố Ràng, Nghĩa Đô diệt 7 vị trí thu nhiều vũ khí, gọi hàng 136 tên. Chiến dịch này đã tạo thuận lợi cho phong trào du kích vùng địch tạm chiếm của tỉnh phát triển. Các khu du kích Tú Lệ, Đá Xô dần hình thành. Trong khu du kích, chính quyền cách mạng được thành lập.

Tháng 7-1948, Hội nghị Cán bộ tỉnh lần 1 họp tại làng Hoà Quân, xã Minh Quân, huyện Trấn Yên. Hội nghị kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo kháng chiến và công tác xây dựng từ cuối năm 1947, xác định nhiệm vụ mới. Hội nghị đã đề ra 5 nhiệm vụ trước mắt:

- Đẩy mạnh xây dựng bộ đội địa phương và dân quân du kích; đưa thêm cán bộ, bộ đội vào vùng địch trước mắt tập trung xây dựng cơ sở, những nơi đủ điều kiện thì chuyển sang đấu tranh du kích; đề phòng cuộc tấn công thu đông của địch ở vùng tự do.

- Kiện toàn một bước chính quyền các cấp, mở rộng mặt trận, phát triển các đoàn thể cứu quốc, tăng cường khối đoàn kết toàn dân, đoàn kết các dân tộc.

- Quan tâm cải thiện đời sống nhân dân, bồi dưỡng sức dân, tạm chia ruộng Việt gian, ruộng vắng chủ cho nông dân, từng bước giảm tô, giảm tức.

- Phát động phong trào thi đua ái quốc xây dựng kinh tế - văn hóa nhằm củng cố vùng tự do vững mạnh, động viên các tầng lớp nhân dân đóng góp cho kháng chiến, xung phong vào vùng địch hoạt động, tòng quân...

- Đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng, trọng tâm là chấn chỉnh các chi bộ, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với bộ đội, dân quân du kích, chú trọng xây dựng các cơ sở Đảng dọc các tuyến giao thông quan trọng. Phương hướng phát triển Đảng nhằm vào quần chúng tích cực, ưu tú trong các lực lượng vũ trang và các dân tộc.

Một trong các nhiệm vụ quan trọng mà Hội nghị đề ra là việc xây dựng và phát triển lực lượng mà đặc biệt là lực lượng trẻ. Các Đảng bộ trong tỉnh luôn tăng cường chỉ đạo phát triển công tác thanh niên, phát huy sức mạnh tổ chức của Đoàn và lực lượng thanh niên. Qua thời gian tham gia chiến đấu, họ đã tỏ rõ tinh thần hăng hái, một lòng theo Đảng, theo lời kêu gọi của Bác Hồ, lập được nhiều công đầu rất có ý nghĩa về mặt động viên tinh thần giết giặc, cứu nước, cứu nhà. Các huyện đều có các tổ công tác thanh niên; ở cơ sở làng, xã có chi đoàn Thanh niên Cứu quốc. Theo sự chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đoàn lâm thời, các tỉnh tiến tới Đại hội Tỉnh Đoàn để  thống nhất hệ thống tổ chức từ dưới lên trên, chuẩn bị tiến tới Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ nhất.

Từ trong cuộc chiến đấu bảo vệ độc lập, tự do, hàng nghìn đoàn viên mới đã được kết nạp vào Đoàn. Tuy gian khổ và thiếu thốn mọi bề nhưng đội ngũ cán bộ Đoàn của tỉnh đã nỗ lực phấn đấu, đi sâu đi sát phong trào, tuyên truyền, tổ chức, xây dựng cơ sở Đoàn ở hầu hết các huyện, thị, ngay ở những vùng địch tạm chiếm đóng.

Dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, cuộc đấu tranh của tuổi trẻ Yên Bái ngày càng phát triển nhằm thực hiện các nhiệm vụ chính trị, quân sự... của địa phương. Các đội dân quân tự vệ, đội du kích... của thanh niên được thành lập góp phần quan trọng vào cuộc kháng chiến của toàn Đảng, toàn dân ta. Từ giữa năm 1948, phong trào du kích trong vùng địch tạm chiếm phát triển mạnh mẽ. Ta xây dựng các cơ sở mới ở Văn Chấn (Phù Nham, Hạnh Sơn, Thạch Lương và Nghĩa Lộ). Tháng 8-1948, Ban cán sự Đảng Than Uyên, đội vũ trang của đồng chí Hồng Quân và một bộ phận của C520 xây dựng được cơ sở ở khắp các xã của huyện. Đoàn viên, thanh niên Yên Bái xung phong tham gia các đội du kích Mường Kim, Na Khoang, Mồ Dề, Lao Chải. Đội vũ trang Văn Bàn và C520 liên lạc được với cơ sở cũ ở Khánh Yên, Minh Lương, Võ Lao. Được giáo dục và tuyên truyền cách mạng, nhiều thanh niên người dân tộc Mông ở Văn Chấn, Than Uyên giác ngộ, đã đứng lên đấu tranh chống bắt phu, bắt lính, chống cướp lương thực, thực phẩm làm cho địch lúng túng, khó khăn. Trong đợt tổng phá tề, tuổi trẻ và nhân dân Yên Bái đã phá 20 ban tề xã. Một thành tích đáng ghi nhận của các đoàn viên, thanh niên Yên Bái là đã vận động được hàng chục lính dõng bỏ hàng ngũ địch trở về với nhân dân.

Cùng với công tác vũ trang, thanh niên Yên Bái một mặt vẫn chú ý hoạt động trên các lĩnh vực văn hóa, xã hội như: Tổ chức một thư viện với 50 đầu sách; tổ chức một nhóm nghiên cứu chính trị; hàng tháng tổ chức một ngày vệ sinh chung; phong trào thể dục thể thao được chú trọng phát triển khá mạnh. Thanh niên còn tổ chức thành lập một đội kịch ra mắt đồng bào.

Ba tháng cuối năm 1948, du kích và các đại đội độc lập Yên Bái kết hợp với bộ đội chủ lực đánh nhiều trận xuất sắc. Ngày 28-10-1948, du kích Hưng Khánh, Đồng Khê và C524 phục kích địch ở khe Ken diệt 15 tên, bắn bị thương 8 tên. Ngày 1-12-1948, đại đội 524 đã cùng với một số thanh niên trong bản mưu trí, dũng cảm phục kích diệt tên bang tá Cầm Ngọc Vinh và 5 tên lính dõng khi chúng từ Hán Lìu lên Bản Mù. Đây là một chiến công tiêu biểu trong phong trào diệt ác, trừ gian của lớp trẻ Yên Bái làm cho thực dân Pháp mất một tay sai đắc lực, bọn phản động vô cùng hoảng sợ, một số tên không còn dám hung hăng chống phá ta như trước.

Thanh niên du kích các xã Xuân Kỳ, Vị Thượng, Lương Sơn (Lục Yên), Đông An (Văn Bàn), Đại Đồng (Trấn Yên), Chấn Thịnh, Cát Thịnh, Đại Lịch, Thượng Bằng La, Minh An, Bình Thuận (Văn Chấn) mặc dù ở gần các đồn bốt địch, thường xuyên bị chúng càn quét, khủng bố vẫn không ngừng phát triển lực lượng, bám trụ kiên cường, chiến đấu theo kiểu "vết dầu loang" của địch. Đến cuối năm 1948, toàn tỉnh có 16 làng và 3 khu chiến đấu. Lực lượng du kích gồm đủ các giới, đủ các lứa tuổi nhưng đa phần là nam nữ thanh niên. Riêng huyện Trấn Yên có hơn 700 người, huyện Lục Yên có gần 650 người.

Tuy nhiên, công tác vùng địch tạm chiếm cũng gặp phải không ít khó khăn, tổn thất. Ngày 7-11-1948 địch đánh úp Nậm Tha (Văn Bàn), cả đội vũ trang hy sinh, trong đó có đồng chí Phạm Đức Chu - Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến Hành chính huyện. Ngày 11-11-1948, tên Hà Văn Duyệt - xã đội trưởng Đại Khánh, huyện Trấn Yên đưa 5 du kích ra hàng giặc Pháp.

Trước tình hình ấy, Tỉnh ủy đã họp khẩn cấp và chỉ ra những nguyên nhân, những bài học kinh nghiệm. Tỉnh ủy cũng chỉ ra công việc cần kíp trước mắt bên cạnh việc chú trọng xây dựng lực lượng là xây dựng, củng cố vùng tự do thành hậu phương vững chắc để phát triển cuộc đấu tranh trong vùng địch tạm chiếm. Trong cuộc họp khẩn cấp này, đồng chí Nguyễn Bá Nghiệp được chỉ định phụ trách công tác thanh niên tỉnh (đồng chí Nghiệp đã giữ chức vụ này từ tháng 12 năm 1948 đến tháng 11 năm 1949).

Sau thời kỳ dài phổ biến và học hỏi rút kinh nghiệm, thời kỳ này nông dân các địa phương trong tỉnh đã biết cấy lúa vụ chiêm. Trong năm 1948, huyện Trấn Yên cấy được gần 36 ha, huyện Văn Chấn gieo cấy được 5 tấn thóc giống. Tỉnh ủy còn giao cho thanh niên nhiệm vụ tiếp tục phát triển văn hóa, xã hội. Hàng ngàn đoàn viên, thanh niên đã tích cực tham gia phong trào bình dân học vụ, phát triển xuống tận các thôn, xã. Nhờ sự nỗ lực không ngừng của tuổi trẻ và toàn dân, năm 1948 tỉnh có thêm 31.500 người biết đọc, biết viết, nâng tổng số người biết đọc biết viết lên hơn 45.000 người, chiếm 1/4 số dân.

Để đưa cuộc kháng chiến của tỉnh giành được thắng lợi mới, ngày 10-1-1949, Hội nghị Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần II họp tại xã Nam Cường (Trấn Yên, nay là xã Nam Cường - thành phố Yên Bái). Hội nghị đã đánh giá toàn diện tình hình chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, tình hình địch - ta... Hội nghị khẳng định những chủ trương, biện pháp đề ra tại Hội nghị Cán bộ tỉnh lần I (tháng 7-1948) là đúng đắn và nhấn mạnh thêm một số vấn đề quan trọng nhằm đẩy mạnh xây dựng chính quyền và các tổ chức quần chúng bí mật trong vùng địch, xây dựng các đội du kích tập trung, phát triển chiến tranh du kích ở khắp nơi, phát động mạnh mẽ hơn nữa phong trào thi đua ái quốc, chăm lo phát triển Đảng, đào tạo cán bộ dân tộc.

Thực hiện chủ trương của Hội nghị, từng cơ sở Đoàn đã vận động đoàn viên học tập quân sự và tham gia dân quân làm nhiệm vụ bảo vệ làng, xã; khi có giặc đến đoàn viên trở thành dân quân tham gia chiến đấu tại địa phương. Cùng với các đoàn viên và thanh niên trong lực lượng bộ đội địa phương và dân quân du kích, đoàn viên và thanh niên còn tham gia vào các đội danh dự, đội trừ gian diệt tề, đội xung phong công tác... do công an tỉnh chỉ đạo.

Ngày 26-3-1949, đồng chí Vũ Tuân, Bí thư Tỉnh ủy đã ra Chỉ thị về việc cử người phụ trách thiếu nhi của tỉnh và lưu ý Ban Chấp hành Thanh niên Cứu quốc chú trọng công tác thanh niên. Thực hiện Chỉ thị của Đảng bộ tỉnh, Đoàn Thanh niên đã có nhiều hoạt động sôi nổi. Ban Chấp hành Đoàn các cấp được chấn chỉnh lại và được bầu chính thức từ xã đến huyện, tỉnh, mỗi nơi 5-7 người, đủ các thành phần dân tộc. Công tác sinh hoạt Đoàn diễn ra đều đặn. Nhiệm vụ xây dựng lực lượng được Đoàn đặc biệt chú trọng. Đầu năm 1949, Yên Bái đã vận động được 1.246 thanh niên tòng quân. Buổi lễ tòng quân tháng 3 năm 1949 đã gây được ấn tượng mạnh mẽ, góp phần thúc đẩy phong trào tòng quân phát triển rầm rộ, rộng lớn. Ngày 21-3-1949, Ban Chấp hành Tỉnh đoàn ra Chỉ thị các cấp bộ Đoàn tổ chức ngày chống chủ nghĩa thực dân tại 6 điểm. Nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ được tổ chức. Tỉnh mở một lớp tập huấn tại Lục Yên. Các huyện có 6 lớp với thời gian từ 7-10 ngày cho các ủy viên chấp hành với tổng cộng 449 học viên. Đoàn Thanh niên còn tổ chức được một buổi nói chuyện ở Văn Yên thu hút rất đông thanh niên và nhân dân tham dự; 24 buổi biểu diễn kịch và ra 13 tờ bích báo. Đến thời điểm này, 90% thanh niên Yên Bái đã thoát nạn mù chữ. Để làm gương cho các tầng lớp nhân dân, thanh niên đi đầu trong phong trào thực hiện đời sống mới như ăn mặc gọn gàng, sạch sẽ; tổ chức các ngày vệ sinh chung; làm chuồng trâu xa nhà...

Sau đợt chấn chỉnh và củng cố lực lượng, ngay từ đầu năm 1949, tuổi trẻ Yên Bái đã lập được những chiến công vang dội khắp vùng. Ngày 7-2-1949, anh Hà Văn Hạp, du kích xã Hưng Khánh, huyện Trấn Yên đã dùng súng trường bắn rơi một máy bay tiếp tế cho đồn Ca Vịnh, diệt 5 tên Pháp. Giữa tháng 3-1949, lực lượng du kích Trạm Tấu gồm 40 người đã mưu trí dũng cảm phục kích địch ở kế Khau Ly, diệt và bắt sống toàn bộ 3 đại đội địch. Những chiến công này đã đánh dấu sự trưởng thành của lực lượng vũ trang Yên Bái, đặc biệt là sự phát triển của lực lượng thanh niên trong hàng ngũ cứu quốc, có tác dụng cổ vũ mạnh mẽ tinh thần chiến đấu của quân và dân trong tỉnh, nhất là với lực lượng du kích ở các địa phương.

Trên cơ sở đánh giá tình hình ta và địch, tháng 4-1949, Bộ Tổng tư lệnh quyết định mở chiến dịch Sông Thao đánh vào hệ thống phòng thủ của địch bên hữu ngạn sông Hồng, thuộc phân khu Nghĩa Lộ và phòng tuyến Bảo Hà - Phố Ràng - Nghĩa Đô - Yên Bình thuộc phân khu Lào Cai nhằm phá thế uy hiếp của địch đối với căn cứ địa Việt Bắc từ phía Tây, tạo điều kiện phát triển mạnh mẽ hơn nữa cuộc chiến tranh du kích ở khu Tây Bắc.

Để phục vụ cho chiến dịch Sông Thao, Hội nghị Cán bộ của tỉnh đã quyết định vận động nhân dân góp lương thực, thực phẩm, đồng thời chuẩn bị kế hoạch cho bộ đội địa phương và du kích phối hợp chiến đấu. Hội nghị nhấn mạnh phải đẩy mạnh xây dựng cơ sở trên tuyến đường vào vùng địch và các trung tâm chính trị, quân sự, đồn bốt quan trọng của chúng.

Hưởng ứng chủ trương của tỉnh, các tầng lớp nhân dân Yên Bái mà đi đầu là thanh niên, đặc biệt là chị em nữ thanh niên đã tranh thủ thời gian vỡ đất, khai hoang phục hóa, tăng thêm diện tích trồng trọt. Trong công cuộc chuẩn bị kháng chiến, nổi lên nhiều tấm gương nữ thanh niên tiêu biểu. Các chị vừa tích cực tham gia sản xuất, vừa hăng hái động viên chồng, cha, anh tham gia kháng chiến. Nhiều chị được kết nạp vào Đảng và tham gia Ban Chấp hành Phụ nữ tỉnh hoặc các huyện, thị xã như chị Dương Thị Tùng (Trấn Yên), Nguyễn Thị Tuyết Mai (Lục Yên), Hoàng Thị Huê (Văn Chấn), Nguyễn Thị Duyên (Văn Bàn). Mặc dù đang trong thời kỳ giáp hạt, dự trữ lương thực hạn chế, song tuổi trẻ và các tầng lớp nhân dân Yên Bái vẫn nhiệt tình cung cấp cho bộ đội ta 312 tấn gạo, hàng chục tấn lương thực, thực phẩm, huy động được hàng ngàn dân công với 45.000 ngày công, 55 bè mảng vượt sông, 120 ngựa thồ phục vụ chiến dịch.

Ngay từ những ngày đầu mở chiến dịch Sông Thao, thanh niên trong các lực lượng vũ trang của tỉnh đã phối hợp chặt chẽ với những đơn vị bộ đội chủ lực. Du kích Trấn Yên và đại đội 522 phục kích các toán quân tháo chạy diệt 28 tên, gọi hàng 27 tên. Thanh niên du kích Lục Yên cùng đại đội 672 (F165) phục kích bọn địch rút đi Nghĩa Đô diệt 50 tên, bắt sống nhiều tên khác.

Ngày 19-5-1947, ta quyết định tấn công đồn Đại Phác mở màn chiến dịch Sông Thao, lập thành tích chào mừng 59 năm ngày sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tiểu đoàn bộ binh 11 thuộc sư đoàn 308 và tiểu đoàn 54 được giao nhiệm vụ này. Nhận được Chỉ thị của cấp trên, Tỉnh ủy Yên Bái giao nhiệm vụ cho thanh niên và các tầng lớp nhân dân Yên Bái trong các lực lượng vũ trang, đặc biệt khu xung quanh đồn ủng hộ, phối hợp với bộ đội ta hoàn thành nhiệm vụ. Triển khai kế hoạch, thanh niên trong các đội du kích đã chuẩn bị sẵn sàng tinh thần cho cuộc tấn công, một số khác chuẩn bị đón tiếp, động viên bộ đội. Các nữ thanh niên chuẩn bị công tác hậu cần, trạm đón và chăm sóc thương binh.

Theo đúng kế hoạch, 11 giờ 40 phút, tiểu đoàn 11 bất ngờ nổ súng, tất cả mọi việc đã diễn ra gần như ý muốn của đơn vị, các cỡ súng của ta bịt chặt được hầu hết các lỗ châu mai của địch, các ổ trung liên của địch ở hướng xung phong chủ yếu đều bị dập tắt.

Các tiểu đội xung kích ào ạt tiến nhanh, thang không đủ, các chiến sĩ ngồi thụp hẳn xuống công kênh nhau lên để nhảy vào đồn. Bộ đội rầm rập lao nhanh qua cửa mở, trung đội phó trung đội 1 Lê Văn Nho đứng hẳn lên mặt tường hô: Các phần tử tích cực tiến lên, chiến sĩ Phủ Thông tiến lên!

Trên hướng tấn công của đại đội 124, bộ đội đang đánh chiếm lô cốt phía ngoài, xung kích tiến nhanh vào trung tâm, súng địch từ các lô cốt bắn trả quyết liệt, hướng chủ yếu, chiến sĩ xung kích Nguyễn Văn Cần nhảy vào một căn nhà giữa đồn đạp tung cánh cửa. Cánh cửa bật mở, tên quan hai chỉ huy đồn hốt hoảng chạy ra, nhanh như cắt, Cần dùng mác đâm tên địch chết ngay tại chỗ. Mất chỉ huy, bọn địch chống cự yếu ớt. Từ các hướng, chiến sĩ chia nhau đi đánh chiếm từng lô cốt một. Tất cả các hoả lực đồng loạt nổ súng áp đảo địch, yểm trợ cho xung kích xung phong.

Đồn Đại Phác bị hạ đã giải phóng hàng nghìn dân bị dồn về quanh đồn, mở rộng vùng giải phóng, củng cố lòng tin, động viên nhân dân các dân tộc tham gia chiến đấu, tạo điều kiện cho công tác hậu địch phát triển mạnh mẽ, nhất là hoạt động của bộ đội địa phương, dân quân du kích.

Ở Văn Chấn, đại đội 524 đánh đồn Bản Héo (Sơn A) và đồn Cửa Nhì (Sơn Thịnh) gây cho địch nhiều thiệt hại, tinh thần quân địch hoang mang, dao động mạnh. Sau đó bộ đội địa phương và du kích diệt hai vị trí Gốc Báng và Bản Tủ, phá 2 kho thóc khoảng 20 tấn. ở Văn Bàn, 30 lính dõng xã Đông An xin hàng và được bổ sung vào đội du kích xã. Cơ sở du kích phát triển đến Dương Quỳ, Minh Lương. ở Than Uyên, ta mở nhiều trận tập kích, phục kích vào các vị trí, các toán quân tuần tiễu của địch và tiến hành đánh địch ở Dương Quỳ, phá kho hàng, lấy thóc, muối, vải chia cho dân. Trên đà thắng lợi, ngày 24-6-1949, quân ta mở trận tấn công đồn Phố Ràng.

Đồn Phố Ràng nằm ở trung tâm phòng tuyến Nghĩa Đô - Bảo Hà, giữ vị trí chiến lược quan trọng, nằm cắt ngang từ sông Chảy đến sông Hồng lập thành tuyến hành lang ngăn chặn bộ đội ta tiến vào giải phóng Lào Cai, là vành đai nối liền giữa phân khu Lào Cai với phân khu Nghĩa Lộ. Hạ được đồn Phố Ràng sẽ làm rung chuyển và phá vỡ toàn bộ tuyến phòng thủ của địch.Tiểu đoàn bộ binh 11 được giao nhiệm vụ đánh đồn Phố Ràng, trận then chốt của chiến dịch Sông Thao.

Địch ở tiểu khu Phố Ràng có khoảng trên 1 đại đội, có hoả lực mạnh, công sự tương đối kiên cố, binh lính trong đồn đều được huấn luyện kỹ, có trình độ chiến thuật, kỹ thuật.Tiểu đoàn 11 (Phủ Thông), đơn vị vừa thu nhiều thắng lợi trong trận diệt đồn Đại Phác, có truyền thống và kinh nghiệm tiến công đánh địch trong công sự vững chắc, nhận nhiệm vụ trong trận Phố Ràng với một quyết tâm và khí thế chiến đấu hừng hực. Tiểu đoàn 11 hầu hết là lực lượng trẻ, đầy nhiệt tình và lòng yêu nước do anh Vũ Yên làm tiểu đoàn trưởng, anh Mai Nhân làm chính trị viên.

Sau 40 giờ kiên cường, dũng cảm chiến đấu liên tục tấn công mãnh liệt, tiểu đoàn 11 đã hạ đồn Phố Ràng, diệt 76 tên địch thu được 1 súng máy 12,7 ly, 2 cối 81 ly, 2 đại liên, 2 trung liên, nhiều đạn dược, quân trang và quân dụng. Thắng lợi của trận tấn công đồn Phố Ràng mở màn cho đợt hai của chiến dịch Sông Thao, đánh dấu thành công của tiểu đoàn bộ binh 11. Đây là trận đánh kiên cường, tiến công kiên quyết, mưu trí sáng tạo của bộ đội ta đánh địch trong công sự vững chắc, thể hiện ý chí quyết chiến, quyết thắng và truyền thống anh hùng của quân đội. Tuy nhiên, không thể không kể đến sự đóng góp to lớn của quân và dân Yên Bái, đi đầu là tuổi trẻ Yên Bái. Nhân dân xung quanh đồn, mặc dù nằm trong vùng địch tạm chiếm nhưng vẫn một lòng hướng về kháng chiến, nhiệt tình ủng hộ, giúp đỡ  bộ đội như: Giữ bí mật, ủng hộ lương thực, thực phẩm, có gia đình ủng hộ cả một con trâu cho bộ đội làm lương thực. Thanh niên du kích các xã xung quanh đồn hoạt động rất tích cực như Lương Sơn, Xuân Thượng, nhận nhiệm vụ dẫn đường cho bộ đội và đưa cán bộ đi nghiên cứu tìm hiểu chiến trường, cung cấp tình hình và quy luật hoạt động của địch... góp phần làm nên chiến thắng.

Bị ta đánh mạnh và bao vây nên đầu tháng 7-1949, địch rút về Bình Lư (Phong Thổ), huyện Than Uyên được giải phóng, Uỷ ban Hành chính các xã ra hoạt động công khai, phát động quần chúng phá hết hội tề, diệt một số tên tay sai gian ác của thực dân Pháp.

Chiến dịch Sông Thao và các hoạt động phối hợp của các đại đội độc lập, bộ đội địa phương, du kích đã giải phóng 82 làng bản, gồm 6.000 km2 đất đai và hơn 20.000 dân, đưa cuộc đấu tranh du kích Yên Bái phát triển lên một bước mới.

Từ trong đấu tranh, lại được sự quan tâm lãnh đạo của Tỉnh ủy, tổ chức Đoàn trong toàn tỉnh từng bước được củng cố và phát triển qua sự tham gia các phong trào yêu nước, đẩy mạnh du kích chiến tranh, khẩu hiệu "mỗi đoàn viên là một dân quân, một chiến sĩ du kích" đã được thực hiện ở phần lớn các cơ sở Đoàn trong tỉnh.

Từ giữa năm 1949, Trung ương Đoàn chỉ đạo cuộc vận động thi đua lập thành tích tiến tới Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ I bằng việc thực hiện một số mặt công tác thiết thực như:

- Đẩy mạnh phong trào thi đua giết giặc lập công trong thanh niên các lực lượng vũ trang.

- Cổ vũ đoàn viên, thanh niên hăng hái tòng quân, tích cực tham gia luyện tập quân sự.

- Tích cực tăng gia sản xuất theo lời kêu gọi của Bác Hồ "thực túc, binh cường".

- Phát triển phong trào đấu tranh chống khủng bố, đàn áp, lừa bịp, chống bắt thanh niên đi lính, trong các vùng địch hậu.

- Xây dựng tổ chức Đoàn Thanh niên Cứu quốc thành lực lượng trung kiên làm hạt nhân để tập hợp, đoàn kết các tầng lớp thanh niên, chống âm mưu phá hoại, chia rẽ thanh niên của kẻ thù.

Thực hiện những chủ trương của Trung ương Đoàn đề ra, Đoàn Thanh niên Cứu quốc Yên Bái có nhiều hoạt động sôi nổi. Trước hết là việc củng cố tổ chức Đoàn. Từ đầu tháng 11 năm 1949, đồng chí Nguyễn Bá Nghiệp được chuyển sang nhận nhiệm vụ mới. Đồng chí Nguyễn Xuân Tư được trao nhiệm vụ phụ trách Đảng - Đoàn thanh niên tỉnh Yên Bái từ tháng 11 năm 1949 đến tháng 1 năm 1950. Khi đồng chí Nguyễn Xuân Tư nhận trọng trách mới thì đồng chí Nguyễn Hồng Chương được giao phụ trách Đảng - Đoàn Thanh niên tỉnh (từ 1-1950 đến 5-1950). Tiếp đến là việc tăng cường phát triển lực lượng vũ trang bao gồm cả bộ đội địa phương và dân quân du kích khi trung đoàn 115 rút ra vùng tự do để tập trung đã để lại đại đội 520 ở lại hoạt động tại Than Uyên. Tháng 9-1949, 4 đại đội bộ đội địa phương được thành lập ở Yên Bái. Đại đội 85 ở Văn Bàn, đại đội 86 ở Văn Chấn, đại đội 87 và 96 ở Trấn Yên. Không chỉ nam thanh niên mà nữ thanh niên cũng hăng hái tham gia lực lượng vũ trang, trực tiếp chiến đấu. Năm 1949 đã có 195 đoàn viên Phụ nữ Cứu quốc xung phong tòng quân, xây dựng được 19 tiểu đội nữ du kích, trong đó có 1 đội vận tải, 1 đội tiếp tế, 1 đội cứu thương.

Trong khi ta đang ráo riết củng cố lực lượng, chuẩn bị kháng chiến thì Pháp cũng tăng cường chuẩn bị mọi mặt tiếp tục của chiến tranh xâm lược bằng việc đưa ra kế hoạch Rơ-ve nhằm mở rộng phạm vi chiếm đóng ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ, phong toả chặt biên giới Việt - Trung; tăng cường xây dựng quân nguỵ, thực hiện chính sách "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt".

Trước chiến lược mới của thực dân Pháp, để đập tan kế hoạch quân sự, chính trị của chúng, lãnh đạo tỉnh đã xác định phải tiếp tục đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích ở các địa phương. Nhiệm vụ quan trọng trước mắt là tập trung lực lượng chống địch càn quét, bảo vệ cơ sở, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, đảm bảo thu hoạch vụ mùa. Theo chủ trương của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, thanh niên trong các vùng địch tạm chiếm và sát địch tổ chức thành hệ thống dây chuyền theo dõi và báo cho nhân dân biết những hoạt động của địch để kịp thời phòng tránh, đồng thời củng cố và tăng cường trang bị để nâng cao khả năng chiến đấu. Các đội du kích Gia Hội, Tú Lệ (Văn Chấn), Khánh Yên, Võ Lao, Phong Dụ (Văn Bàn) phát triển cả về số lượng và chất lượng. Với những chủ trương biện pháp tích cực, chủ động trên, những tháng cuối năm 1949, mặc dù thiếu sự hỗ trợ của các đơn vị chủ lực, các đội du kích Yên Bái vẫn bám trụ vững chắc ở địa bàn. Với cách đánh sáng tạo, bí mật, bất ngờ, nhiều phen đã khiến địch hết sức lo sợ, hoang mang.

Trải qua những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, được đem sức trẻ của mình bảo vệ quê hương, đất nước, một thế hệ thanh niên đầy nhiệt huyết và dũng cảm vô song đã lớn lên trên mảnh đất Yên Bái giàu truyền thống. Và cũng trong phong trào đấu tranh này, một lớp cán bộ đoàn viên, thanh niên Yên Bái đã trưởng thành với những cống hiến xuất sắc được ghi lại trong những trang sử vàng của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.

                   III- Tuổi trẻ Yên Bái lập thành tích chào mừng Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ nhất, góp phần xuất sắc đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đến toàn thắng, giải phóng quê hương (1950 - 1952).

Bước vào đầu năm 1950, dưới ánh sáng các Nghị quyết về công tác thanh niên của Đảng, phong trào thanh niên phát triển ngày càng vững chắc và rộng rãi, tổ chức Đoàn lớn mạnh trong cả nước, ngay trong các đô thị và các vùng tạm bị chiếm, tuổi trẻ tích cực đấu tranh chống địch và hướng về cuộc kháng chiến vì độc lập, tự do của Tổ quốc mà tiêu biểu là cuộc xuống đường rầm rộ của hàng nghìn thanh niên, học sinh, sinh viên Sài Gòn – Chợ Lớn vào ngày 9-1-1950.

Trong bối cảnh đó, Đại hội Đại biểu Đoàn Thanh niên Cứu quốc toàn quốc lần thứ I đã được triệu tập và khai mạc vào ngày 7-2-1950 tại Đại Từ (Thái Nguyên) với trên 400 đại biểu đại diện cho hàng triệu cán bộ, đoàn viên, thanh niên khắp mọi miền đất nước từ Bắc vào Nam.

Đại hội Đại biểu Đoàn Thanh niên Cứu quốc toàn quốc lần thứ nhất là sự kiện chính trị trọng đại trong sinh hoạt Đoàn và phong trào thanh niên nước ta, đánh dấu một chặng đường hình thành và phát triển vẻ vang của tổ chức Đoàn, được sự chăm sóc chu đáo của Đảng, của Bác Hồ kính yêu và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Sau 7 ngày làm việc, Đại hội Đại biểu Đoàn toàn quốc lần thứ nhất đã thành công rực rỡ; Đại hội nêu cao quyết tâm: "Tất cả vì tiền tuyến, tất cả để chiến thắng giặc Pháp xâm lược".

Ngay sau Đại hội Đoàn toàn quốc, Ban Chấp hành Tỉnh Đảng bộ Yên Bái đã triệu tập Đại hội Đoàn Thanh niên Cứu quốc Yên Bái lần thứ I (năm 1950) để triển khai cá công việc cần kíp trước mắt. Trong Đại hội này, đồng chí Nguyễn Thiệu Quân được bầu làm Bí thư Đảng - Đoàn Thanh niên tỉnh (đồng chí Thiệu Quân giữ chức vụ này từ tháng 5 năm 1950 đến tháng 12 năm 1951 thì nhận trọng trách mới).

Cũng trong những ngày đầu năm 1950, nhân sự kiện cách mạng Trung Quốc thành công (tháng 10-1949), Ban Thường vụ Trung ương Đảng Chỉ thị mở chiến dịch Lê Hồng Phong (màn 1) nhằm mục đích làm tan rã khối nguỵ binh, tiêu diệt một phần sinh lực, giải phóng Lào Cai, Yên Bái. Quân và dân tỉnh Yên Bái có nhiệm vụ phục vụ chiến dịch và nghi binh đánh lạc hướng phán đoán của địch.

Để thực hiện nhiệm vụ và chủ trương đường lối của Đảng đề ra, tỉnh Yên Bái đã cho triển khai ngay những vấn đề cần kíp trong mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thanh niên nhằm chuẩn bị bước vào cuộc chiến đấu mới. Nhận nhiệm vụ của lãnh đạo tỉnh, sau khi dự Đại hội Đoàn toàn quốc trở về, các cán bộ Đoàn đã thực hiện tuyên truyền, phổ biến Nghị quyết và các đề án công tác do Đại hội thông qua đến các cấp bộ Đoàn trong toàn tỉnh. Với tinh thần "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Pháp xâm lược", tuổi trẻ toàn tỉnh đã hăng hái tham gia đợt tuyển quân do tỉnh phát động. Chỉ riêng đợt tuyển quân đầu năm 1950 đã có 300 thanh niên nhập ngũ. 72/111 xã lập được ban xã đội do một cấp ủy phụ trách; mỗi trung đội du kích có từ 3-5 đảng viên, mỗi huyện có một trung đội du kích thoát ly. Các đơn vị được trang bị thêm tiểu liên, súng trường, mìn, lựu đạn...

Công tác chuẩn bị lương thực thực phẩm phục vụ kháng chiến cũng nhanh chóng được triển khai. Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc bán gạo để khao thưởng cho bộ đội, nhân dân Yên Bái đã bán cho Chính phủ 750 tấn thóc; mua 50 vạn đồng công phiếu kháng chiến trong đó riêng huyện Lục Yên mua 209.040 đồng. Chị em nữ thanh niên các dân tộc tận tình phục vụ kháng chiến. Chị em ngày đêm xay thóc giã gạo, đi dân công và động viên gia đình đóng góp lương thực thực phẩm, tổng số được trên 300 tấn thóc, gần 50 tấn gạo và trên 100 con trâu, lợn, trên 30.000 đồng cung cấp cho chiến dịch. Chị em nữ thanh niên ở huyện Lục Yên còn tổ chức các đội tải thương, cứu thương gồm 100 chị em phục vụ các đơn vị chiến đấu. Hàng nghìn thanh thiếu niên tham gia phong trào trồng rau, trồng chuối, nuôi gà ủng hộ cán bộ.

Để mở màn chiến dịch, lãnh đạo tỉnh tập trung chỉ đạo các đơn vị bộ đội, du kích đẩy mạnh mọi mặt hoạt động nhân lúc địch tập trung, đối phó ở mặt trận chính, có nhiều sơ hở, đồng thời phát động một đợt tổng phá tề để phối hợp với chiến dịch. Theo kế hoạch nghi binh, lừa địch, hàng ngàn thanh niên các huyện Văn Bàn, Trấn Yên ngày đêm làm việc, đóng gần 400 bè, mảng để ở các bến dọc sông Hồng, dựng một loạt lán trại ở vùng tự do sát địch và trên đường vào Nghĩa Lộ, đắp một số trận địa giả. Quân Pháp cho rằng ta sắp mở chiến dịch ở Nghĩa Lộ nên tìm cách đối phó. Điều đó đã tạo thuận lợi cho bộ đội ta chuẩn bị chiến dịch ở Lào Cai và Nghĩa Đô (Lục Yên - Yên Bái).

Ngày 8-2-1950, chiến dịch Lê Hồng Phong (màn 1) bắt đầu. ở hướng chính Lào Cai sau 6 ngày đêm chiến đấu liên tục, ta làm chủ hoàn toàn cứ điểm Phố Lu, diệt hơn 200 tên địch chủ yếu là lính Âu - Phi tinh nhuệ, bắn cháy 3 máy bay, thu 176 súng các loại, 10 tấn đạn và nhiều phương tiện chiến tranh khác.

Ở hướng phụ Nghĩa Đô (Lục Yên - Yên Bái), từ ngày 7 đến ngày 23-2, E165 ba lần tấn công đồn Nghĩa Đô nhưng không dứt điểm được. Sáng 24-2, Pháp cho một tiểu đoàn nhảy dù xuống tăng cường cho vị trí này. Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt giữa đơn vị ta đang bao vây đồn với quân nhảy dù của địch, cả hai bên đều tổn thất nặng. Sau đó, quân ta ngừng tiến công và chuyển sang bao vây, chia cắt, khống chế các đường tiếp tế của địch cho Nghĩa Đô, phát động nhân dân kêu gọi lính nguỵ bỏ ngũ. Trước nguy cơ bị tiêu diệt, ngày 10-3, quân địch bỏ Nghĩa Đô lên Bắc Hà. Trong thời gian quân ta bao vây và tiêu diệt địch ở Nghĩa Đô, thanh niên trong đội tải thương Lục Yên đã vận chuyển và cứu chữa cho hàng trăm thương binh.

Để phối hợp với chiến dịch, Tỉnh ủy đã chỉ đạo mở đợt tổng phá tề từ ngày 15-2 đến ngày 15-3. ở Văn Chấn, ta chia làm 2 khu hoạt động, khu trong thành lập 5 tổ diệt tề, trong đó 4 tổ hoạt động ở quanh Nghĩa Lộ, khu ngoài 1 tổ. Văn Bàn lập 8 tổ diệt tề, 4 tổ ở làng Ken, làng Cóc, Phong Dụ và Kim Sơn, còn 4 tổ khác ở Võ Lao. Trấn Yên lập 1 tổ diệt tề quanh đồn Ca Vịnh. Lục Yên lập 2 tổ diệt tề, 1 tổ hoạt động trên đường Nghĩa Đô - Bắc Hà, 1 tổ hoạt động trên tuyến Lục Yên - Hàm Yên (Tuyên Quang). Thanh niên là lực lượng chủ chốt trong những tổ diệt tề. Trong một tháng tổng diệt tề, thanh niên Yên Bái đã cùng nhân dân toàn tỉnh hoạt động tích cực và thu về những kết quả khả quan: ở Văn Bàn, ta diệt 11 tên tề, giải tán 8 ban tề xã, giải phóng nửa xã Phong Dụ, một phần xã Tân An, các xã Võ Lao, Kim Sơn, Cam Cọn; Văn Chấn diệt 5 tề và một lính Pháp; Lục Yên diệt 2 tề, thuyết phục và gọi hàng 27 tên khác. Các tổ diệt tề thu 13 khẩu súng, 1 máy ảnh.

Đầu tháng 3-1950, chiến dịch Lê Hồng Phong (màn 1) kết thúc, bộ đội chủ lực được lệnh rút ra ngoài để củng cố. Ngày 9-4, địch từ Nghĩa Lộ lên chiếm Than Uyên, lập các đồn Kim Nọi, Mường Kim, Khau Cọ. ở Văn Bàn, địch chiếm Minh Lương, Dương Quỳ và uy hiếp Võ Lao. Chúng liên tục mở các cuộc càn quét nhằm phá các khu du kích của ta, cướp bóc của cải, đặc biệt là lương thực, thực phẩm. Từ tháng 3 đến cuối 1950, địch càn ở Trấn Yên và Văn Chấn 185 trận, ở Than Uyên 50 trận.

Trước tình hình đó, lãnh đạo tỉnh đã xác định chống càn là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong công tác vùng địch tạm chiếm. Phải bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân; bảo vệ cơ sở và khu du kích; tiêu hao một phần sinh lực địch. Để hạn chế sự càn quét của địch, bộ đội địa phương và lực lượng thanh niên du kích tích cực đẩy mạnh đánh địch trên các đường liên lạc tiếp  tế: Nghĩa Lộ - Tú Lệ, Than Uyên - Bình Lư, Than Uyên - Văn Bàn, kéo căng lực lượng địch, làm cho chúng rơi vào thế bị động; đồng thời một mặt vẫn tiếp tục đẩy mạnh phá tề, khôi phục cơ sở bị vỡ, phát triển cơ sở mới, đề phòng gián điệp chui vào tổ chức của ta.

Thực hiện kế hoạch đề ra, bộ đội địa phương và lực lượng du kích Yên Bái gồm những thanh niên trẻ khoẻ, đầy nhiệt huyết của các dân tộc đã giáng cho địch những đòn choáng váng.

Từ ngày 1 đến 10-3, du kích xã Đại Lịch và du kích xã Hưng Khánh đã đánh 3 trận diệt 17 tên địch, thu 5 khẩu súng, giành lại cho dân 13 con trâu vừa bị chúng cướp. Ngày 6-6 quân ta tập kích vọng tiêu Khe Đài, thôn 3 (Tân An, Văn Chấn) diệt và bắt toàn bộ 6 tên địch, thu 5 khẩu súng. Ngày 16-7, đại đội 86 phục kích đơn vị địch ở đồn Đồng Bồ khi chúng ra càn xã Đại Lịch, diệt 6 tên, bắn thương 4 tên, thu một số súng liên, giành lại cho nhân dân một số gia súc, gia cầm.

Để thực hiện vai trò nòng cốt đi đầu của mình, Đoàn Thanh niên Cứu quốc Yên Bái đã kết hợp cùng Hội Phụ nữ tỉnh để nữ đoàn viên, thanh niên đứng ra tổ chức các "quán nhân dân" phục vụ bộ đội, cán bộ và du kích ra chiến trường. Quán nhân dân thời gian đầu do bà Lý Hồng phụ trách, sau đó bà Quý (bà Ký rượu) phụ trách. Các chị em nữ thanh niên đã phục vụ ở quán không lấy công. Anh chị em bộ đội đã có nơi ăn, nghỉ, được chị em chăm sóc tận tình như trong không khí gia đình. Chỉ tính trong 7 tháng, từ khi khai trương đến cuối 1950 đã có gần 1 vạn cán bộ bộ đội qua lại ăn uống, nghỉ chân tại quán.

Nhằm đưa cuộc kháng chiến tiến lên bước mới, tháng 6-1950, Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Biên Giới(1) nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng trong sinh lực địch, giải phóng vùng biên giới phía Bắc nước ta; mở rộng và giải phóng căn cứ địa Việt Bắc; tiến tới giành quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính.

Nhận nhiệm vụ nghi binh, thu hút kiềm chế quân cơ động đồng thời tiêu diệt bộ phận sinh lực địch, tuổi trẻ và nhân dân Yên Bái lại một lần nữa dựng lán trại, kho lương thực, thực phẩm dọc các đường lớn; lại ngày đêm đóng bè mảng để vượt sông làm cho thực dân Pháp nhầm tưởng ta mở chiến dịch Thu Đông ở Tây Bắc, đẩy chúng rơi vào thế bị động.

Ngày 16-9-1950, tại hướng chính Đông Bắc, quân ta nổ súng đánh Đông Khê, mở màn chiến dịch. Sau những trận chiến đấu hết sức quyết liệt, đến đầu tháng 10, quân ta tiêu diệt hai binh đoàn Sác-tông và Lơ-pa-giơ, giải phóng toàn bộ vùng biên giới từ Cao Bằng đến Lạng Sơn.

Ở mặt trận Tây Bắc, quân ta vừa hoàn thiện nhiệm vụ nghi binh vừa tiêu diệt và bức rút hàng loạt vị trí địch, giải phóng phần lớn tỉnh Lào Cai. Phối hợp với chiến dịch Biên Giới, Tỉnh ủy Yên Bái phát động "Tuần lễ thi đua giết giặc lập công" (23-9 đến ngày 30-9-1950) bằng việc đẩy mạnh các hoạt động quân sự. Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, Ban Chấp hành Tỉnh Đoàn đã kêu gọi toàn thể đoàn viên, thanh niên trong các lực lượng vũ trang toàn tỉnh tổ chức phục kích đánh địch trên các đường giao thông, ngăn chặn mọi sự tiến quân của địch, tích cực phá tề, diệt bảo an, vận chuyển gấp rút lương thực ra vùng tự do để góp phần nuôi quân. Trong một tuần, bộ đội địa phương và du kích đã đánh 10 trận, phá ba vọng gác, diệt 37 tên địch (có 3 tên Pháp), bắn bị thương 57 tên (1 tên Pháp), thu một số vũ khí.

Chiến dịch Biên Giới kết thúc, địch thất bại cả trên mặt trận Đông Bắc và Tây Bắc, buộc chúng phải rút khỏi các địa điểm chiếm đóng. Trong chiến dịch Biên Giới ta đã tiêu diệt và bắt sống 8.300 tên địch, diệt 10 tiểu đoàn, trong đó có 8 tiểu đoàn bị diệt gọn chiếm 41% lực lượng cơ động chiến lược toàn Đông Dương, giải phóng 35 vạn quân với diện tích 4.500 km2. Chiến thắng này buộc địch rút khỏi một số vị trí trên địa bàn tỉnh Yên Bái, vùng giải phóng được mở rộng thêm hơn 1000 km2 và hàng ngàn dân, chính quyền ra hoạt động công khai, đưa cuộc chiến tranh du kích của tỉnh phát triển lên bước mới.

Trong thắng lợi của chiến dịch Biên Giới có sự đóng góp hết sức quan trọng của lực lượng thanh niên trong các vùng địch hậu và vùng hậu cứ. Nhiều xã, tất cả thanh niên nam nữ đều gia nhập dân quân du kích, ngày đêm luyện tập quân sự, tổ chức canh gác, bố phòng, phối hợp với lực lượng vũ trang đánh địch trên nhiều phương diện để thu được thắng lợi cuối cùng.

Thất bại liên tiếp làm cho thực dân Pháp và tay sai hoang mang, dao động. Để củng cố tinh thần, chúng tăng cường dồn dân bắt lính, phát triển nguỵ quân đồng thời trang bị thêm vũ khí, củng cố đồn bốt. Mặt khác, chúng ra sức vơ vét, cướp bóc lương thực, của cải của dân, lôi kéo thanh niên vào các tệ nạn như đánh bạc, hút thuốc phiện, rượu chè nhằm tha hóa lực lượng nòng cốt của kháng chiến.

Về phía ta, để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới, đầu năm 1951, Tỉnh ủy đã mở cuộc vận động phê bình và tự phê bình trong toàn Đảng. Tháng 4-1951, Tỉnh ủy triệu tập Đại hội Đại biểu Đảng bộ lần thứ 2. Trong Đại hội này, Ban Chấp hành tỉnh Đảng bộ Yên Bái đã giành nhiều thời gian để bàn về công tác thanh niên và ngay sau đó đã ra Chỉ thị: "Chấn chỉnh công tác thanh vận, thực hiện thanh niên thực sự làm động cơ ở mọi ngành công tác". Chỉ thị đã nghiêm khắc nhìn nhận và đánh giá về công tác thanh niên trong thời gian qua, không né tránh những thiếu sót, hạn chế và chỉ rõ nguyên nhân của những thiếu sót đó. Ban Chấp hành Tỉnh Đảng bộ đã nêu quyết tâm sẽ xây dựng lực lượng "thanh niên thành một thế hệ trẻ, tiến bộ theo tinh thần chủ nghĩa Mác - Lênin và đạo đức Hồ Chủ tịch, gây thành một lực lượng dự trữ hùng hậu và quý báu của Đảng, lực lượng đó sẽ là nơi gieo mầm chủ nghĩa Đảng, nơi tuyển lựa đảng viên, cung cấp cán bộ cho Đảng và mọi ngành hoạt động"(1). Chỉ thị cũng đã chỉ ra những biện pháp cần kíp trước mắt để tăng cường sức mạnh của tổ chức thanh niên trong thời gian tới. Đại hội còn bầu ra Ban Chấp hành Đoàn Thanh niên Cứu quốc Yên Bái gồm 5 đồng chí là: Đồng chí Trần Hiểu (tức Thái Nhân) là Bí thư Đảng - Đoàn Thanh  niên tỉnh, đồng chí Phấn, đồng chí Trí, đồng chí Dần, đồng chí Niệm là uỷ viên. Cho đến giữa năm 1954 đồng chí Hiểu được điều đi nhận công tác khác, công tác Đoàn chuyển cho đồng chí Trí phụ trách.

Trong khi ta đang triển khai những công tác chuẩn bị cho chiến dịch mới thì tháng 5-1951, gần 1000 tàn quân Tưởng ở Vân Nam (Trung Quốc) xâm nhập biên giới theo đường Hà Giang xuống Lục Yên, Trấn Yên để vào Nghĩa Lộ cấu kết với quân Pháp. Trên đường tiến quân, chúng đã bị các lực lượng vũ trang và nhân dân Yên Bái tiêu diệt và bắt gần 400 tên, thu 26 súng các loại.

Từ tháng 5 đến tháng 8-1951, địch liên tiếp tấn công vào các cơ sở của ta ở Than Uyên, Phong Thổ, Suối Giàng... nhằm tái chiếm Than Uyên, Phong Thổ, củng cố lại hành lang Than Uyên - Phong Thổ - Sìn Hồ. Trước sự tấn công ồ ạt của kẻ thù, lực lượng thanh niên du kích một mặt vẫn đứng vững và tiếp tục hoạt động, một mặt ra sức tuyên truyền, lôi kéo phần tử phản động về với cách mạng.

Tháng 9-1951, Bộ Tổng tư lệnh quyết định mở chiến dịch Lý Thường Kiệt nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, củng cố và phát triển cơ sở cách mạng trong vùng tạm chiếm, đẩy mạnh chiến tranh du kích. Quân và dân Yên Bái có nhiệm vụ hỗ trợ bộ đội chủ lực, đảm bảo công tác phục vụ kháng chiến.

Ngay lập tức, tuổi trẻ và các tầng lớp nhân dân Yên Bái bắt tay vào nhiệm vụ mới. Phần lớn số đoàn viên, thanh niên của tỉnh đều gia nhập các lực lượng vũ trang, ngày đêm luyện tập sẵn sàng ứng phó bất cứ lúc nào. ở vùng tự do, ta thành lập Hội đồng nuôi quân nhằm vận động nhân dân cung cấp lương thực, thực phẩm cho bộ đội địa phương, thực hiện thống kê nhân lực, phát thẻ quân vụ ở 20 liên xã của huyện Lục Yên, 10 liên xã của huyện Trấn Yên, 4 xã vùng tự do và sát địch của huyện Văn Chấn.

Để đóng góp ngày càng nhiều cho cuộc kháng chiến, từ vụ mùa năm 1951, Yên Bái đã thực hiện chính sách thuế nông nghiệp của Chính phủ. Nhằm tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức của nhân dân, Đoàn Thanh niên đã cùng với Tỉnh ủy mở 171 lớp học, 250 cuộc nói chuyện, 715 buổi phát thanh cho hàng ngàn cán bộ và nhân dân trong tỉnh về Sắc lệnh mới của Chính phủ. Với biện pháp đó, đến cuối 1951, nhân dân trong tỉnh đã huy động được 37.000 tấn lương thực, 241 con trâu, bò và 33 con lợn cung cấp cho bộ đội. Ngoài ra còn 5000 dân công trong đó 2/3 là thanh niên sẵn sàng đem sức mình ra phục vụ kháng chiến.

Ở hướng phụ của chiến dịch (Phong Thổ - Than Uyên), ngày 27-9-1951, quân ta bắt đầu nổ súng tấn công địch, giải phóng Bình Lư, sau đó tiến đánh và lần lượt giải phóng Pa Te (30-9), Giang Ma (3-10), Hoàng Thu Phố (5-10), Thân Thuộc (7-10), Pắc Ta (8-10), tiến công vị trí Mường Than gây cho địch thiệt hại nặng nề.

Trên hướng chính, từ 30-9 đến 4-10, quân ta đã liên tiếp tổ chức các đợt tiến công buộc địch phải tăng cường lính dù ứng cứu. Chỉ trong một thời gian ngắn ta đã diệt 476 tên địch (gồm cả tên chỉ huy phân khu Nghĩa Lộ), bắt sống 412 tên (2 sĩ quan), thu 780 súng, 25 tấn quân trang, quân dụng và 11 tấn đạn, 40 chiếc dù, 47 máy vô tuyến.

Thắng lợi quan trọng của chiến dịch Lý Thường Kiệt đã tạo ra điều kiện thuận lợi thúc đẩy công tác vùng địch tạm chiếm Văn Chấn, Than Uyên phát triển lên bước mới. Cơ sở kháng chiến ở Văn Chấn được mở rộng suốt dọc đường từ Ba Khe vào Nghĩa Lộ và Ca Vịnh.

Trước tình hình ấy, thực dân Pháp tăng cường các biện pháp bình định các vùng chiếm đóng, đồng thời tổ chức càn quét, khủng bố vùng quanh căn cứ quan trọng của chúng và vùng giáp ranh.

Nhằm thúc đẩy phong trào đấu tranh vùng sau lưng địch, tháng 12-1951, tỉnh tổ chức Hội nghị tổng kết công tác vùng địch tạm chiếm và Hội nghị bàn việc phối hợp và phục vụ chiến dịch Tây Bắc (năm 1952). Hội nghị đã khách quan nhìn nhận lại thời gian qua và đánh giá rất cao vai trò của thanh niên. Mặc dù phải đối mặt với không ít khó khăn nhưng tuổi trẻ và nhân dân các dân tộc đã thể hiện rõ truyền thống yêu nước, tin vào quyết tâm theo Đảng kháng chiến. Hầu hết các cơ sở cách mạng tuy bị địch càn quét đánh phá liên tục nhưng vẫn đứng vững. Là lực lượng xung kích đi đầu, các cán bộ, chiến sĩ trẻ sẵn sàng chịu đựng hy sinh gian khổ khắc phục mọi khó khăn trong công tác, anh dũng trong chiến đấu. Trong khi đó, mâu thuẫn giữa các dân tộc với thực dân Pháp và tay sai, mâu thuẫn trong nội bộ kẻ thù ngày càng sâu sắc. Tinh thần bọn nguỵ quyền hoang mang, dao động mạnh.

Theo kế hoạch từ trước, tháng 4-1952, Trung ương Đảng chỉ thị chuẩn bị mở chiến dịch Tây Bắc nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng nhân dân, đất đai, mở rộng củng cố căn cứ địa Việt Bắc, giữ vững đường giao thông quốc tế (Lào Cai - Vân Nam), tạo điều kiện mới cho cách mạng Lào.

Nhận được chỉ thị kết hợp cùng bộ đội chủ lực tiến hành chiến dịch, chuẩn bị mọi mặt cho kháng chiến, quân và dân Yên Bái lại bắt tay vào nhiệm vụ mới. Cùng với các cấp, các ngành trong toàn tỉnh, Đoàn Thanh niên Yên Bái cũng triển khai những nhiệm vụ cụ thể trước mắt. Đầu tiên là việc phát động thi đua lập thành tích chào mừng Đảng và Bác Hồ nhân ngày 19-5 trong toàn thể lực lượng đoàn viên, thanh niên trong tỉnh. Trong Báo cáo của Tỉnh ủy tháng 2-1952 về hoạt động của thanh niên đã nhấn mạnh công tác tăng cường Ban Chấp hành Đoàn các cấp và việc bồi dưỡng cán bộ Đoàn; chấn chỉnh lại tổ chức thanh niên theo đúng với hệ thống tổ chức của Đoàn (mỗi thôn một đội và chia ra các phân đoàn), thực hiện sinh hoạt Đoàn đều đặn, thường xuyên; chú ý việc kết nạp đoàn viên, đặc biệt là nữ đoàn viên.

Triển khai những nhiệm vụ đã đề ra, lại được cổ vũ bởi những thành công đã đạt được bước đầu, một phong trào quần chúng thi đua giết giặc lập công sôi nổi khắp khu căn cứ và phát triển cả trong vùng địch tạm chiếm. Đông đảo thanh niên các dân tộc Yên Bái hưởng ứng phong trào tòng quân và thi đua giết giặc lập công của tuổi trẻ cả nước đã hăng hái gia nhập bộ đội địa phương, dân quân du kích đánh giặc giải phóng quê hương. Lực lượng trẻ tuổi Yên Bái đã tham gia tích cực kế hoạch vượt sông của 60.000 bộ đội và dân công nhằm phục vụ chiến dịch. Đây là công việc hết sức khó khăn, phải đảm bảo bí mật, an toàn và tiến hành trong khoảng thời gian rất ngắn. Để thực hiện, tỉnh đã chỉ đạo các địa phương tích cực huy động, mua sắm hàng trăm chiếc thuyền, phà, bè, mảng, mở thêm nhiều bến mới. Thanh niên còn tham gia tích cực vào công tác dẫn đường cho bộ đội. Dân quân du kích các xã Việt Long, Hưng Khánh, Đại Đồng, Tân Hợp (Trấn Yên), Cát Thịnh, Thượng Bằng La, Minh An, Bình Thuận, Chấn Thịnh (Văn Chấn) cùng các đại đội 85, 87, 97 bộ đội địa phương đã dẫn đường đưa quân báo của đại đoàn 308 vào vùng địch và bảo vệ an toàn các tuyến đường từ vùng tự do vào Nghĩa Lộ. Trong công tác hậu phương chuẩn bị cho chiến dịch, tuổi trẻ và nhân dân Yên Bái đã vận động được 5.428 dân công; huy động 730 tấn gạo, 622 con trâu, 386 con lợn, 72 tấn muối, 16 tấn đỗ, lạc vừng cho bộ đội. Các đoàn viên, thanh niên trong tỉnh đã đem bờ vai và sức trẻ của mình, khắc phục khó khăn, vượt qua đèo cao, suối sâu, mưa rét và bom đạn của địch vận chuyển hàng vạn tấn vũ khí, lương thực, thực phẩm vào mặt trận. Riêng khối lượng vận chuyển qua sông Hồng tới 47.309 tấn.

Nhiều tấm gương tiêu biểu được nhắc đến như: Anh Đinh Văn Quyết, 25 tuổi, đoàn viên Thanh niên Cứu quốc ở thôn Nga Quan, xã Cổ Phúc, huyện Trấn Yên, tình nguyện gánh 2 gánh hàng cho đồng đội. Trên đường vận chuyển, mặc cho bom rơi đạn nổ, anh vẫn giữ hàng cẩn thận. Có những lúc chân bị đau, sưng phồng, không một lời kêu ca, anh vẫn tiến lên cùng đồng đội. Đó còn là người nữ thanh niên Trần Thị Cảnh, 19 tuổi ở xã Việt Cường, đoàn viên thanh niên xây dựng công tác Yên Bái, gánh 17 kg hàng của mình, chị còn gánh thêm 8 kg giúp hai đồng đội yếu vượt qua nhiều đèo cao, vực sâu ra sát mặt trận…

Trong công cuộc chuẩn bị chiến dịch, không thể không kể đến sự đóng góp to lớn của nữ thanh niên. Được sự chỉ đạo của tỉnh, số lượng đoàn viên nữ tăng lên đáng kể. Năm 1952, trong toàn tỉnh đã có gần 2000 đoàn viên nữ. Chị em đã động viên đông đảo nhân dân các dân tộc địa phương tích cực giúp đỡ các cán bộ, các tổ quân báo và các đơn vị vào chuẩn bị chiến trường. Chị em còn tạo điều kiện để cán bộ xây dựng cơ sở "Mật giao" trong đồn địch, vận động được lính thường xuyên cung cấp tin trong đồn địch cho cán bộ, giúp cho cán bộ bắt liên lạc với anh Quy, nhân viên cơ yếu trong đồn lấy được một bản mật mã của địch, gần đến ngày tiến hành chiến dịch, được linh mục Sáng xuất hàng chục tấn thóc ở kho nhà Chung ủng hộ, chị em lại ngày đêm xay giã để kịp có gạo cung cấp cho bộ đội.

Ngày 14-7-1952, chiến dịch Tây Bắc bắt đầu. Sau hai ngày tiến công liên tiếp vào các vị trí chủ chốt của địch, vào lúc 17 giờ 5 phút ngày 17-10 ta tiến  công cứ điểm Pú Chạng (Nghĩa Lộ đồn), sở chỉ huy phân khu của địch. Được sự hỗ trợ tích cực của các lực lượng vũ trang trong tỉnh, chỉ sau hơn ba giờ chiến đấu quyết liệt, quân ta xoá sổ hoàn toàn cứ điểm này, diệt và bắt toàn bộ gần 400 tên địch trong đó có tên trung tá chỉ huy trưởng phân khu, thu toàn bộ vũ khí, quân trang, quân dụng. Đến 3 giờ sáng ngày 18-10, trung đoàn 88 (đại đoàn 308) tiến công cứ điểm Nghĩa Lộ phố. Địch chống cự điên cuồng. Nhưng chỉ 3 giờ sau, quân ta đã tiêu diệt và bắt sống gần 500 tên địch, thu toàn bộ vũ khí và các phương tiện chiến tranh khác. Được đà, chúng ta liên tiếp tấn công. Chỉ trong vòng 10 ngày, quân ta giải phóng một vùng rộng lớn thuộc tả ngạn sông Đà gồm các huyện Văn Chấn, Than Uyên (Yên Bái), Phù Yên và một phần huyện Quỳnh Nhai (Sơn La). Sau đó, ta tiếp tục mở đợt 2 của chiến dịch Tây Bắc. Đến cuối tháng 12-1952, giải phóng phần lớn Tây Bắc, tiêu diệt và bắt hơn 6.000 tên địch.

Chiến dịch Tây Bắc đã quét sạch quân thù trên mảnh đất Yên Bái. Từ đây, tuổi trẻ và nhân dân Yên Bái chuyển sang nhiệm vụ mới, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ hậu phương, tích cực huy động sức người, sức của cho kháng chiến.

IV- Tuổi trẻ Yên Bái xung kích trong công cuộc xây dựng và củng cố hậu phương, góp phần chi viện cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1952 - 1954).

Thực hiện chủ trương Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, trên cơ sở thực tế địa phương và tình hình chung của đất nước, lãnh đạo tỉnh Yên Bái đã đề ra các biện pháp xây dựng kinh tế - văn hóa địa phương; phát động phong trào toàn quân, toàn dân đẩy mạnh tăng gia sản xuất nhằm đáp ứng yêu cầu về lương thực, thực phẩm cho bộ đội và nhân dân trong tỉnh, đóng góp ngày càng nhiều cho cuộc kháng chiến.

Nhận nhiệm vụ là lực lượng xung kích đi đầu trong công cuộc xây dựng và củng cố hậu phương, góp phần chi viện cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tuổi trẻ Yên Bái bắt tay ngay vào nhiệm vụ mới. Ban Chấp hành  Đoàn Thanh niên tỉnh phát động thi đua trong toàn bộ đoàn viên, thanh niên từ tỉnh đến các huyện, xã. Phong trào đã nhanh chóng thu hút đông đảo đoàn viên, thanh niên tạo khí thế thi đua sôi nổi và rộng khắp. Tuổi trẻ các dân tộc nêu cao tinh thần yêu nước, khắc phục khó khăn về thiên tai địch hoạ. Tinh thần lao động hăng say của tuổi trẻ Yên Bái là tấm gương sáng cho các tầng lớp nhân dân trong tỉnh noi theo. Thanh niên trong lực lượng vũ trang và trong các cơ quan Nhà nước tranh thủ thời gian tăng gia sản xuất, tự túc một phần lương thực, thực phẩm. Khắp nơi trong tỉnh từ Lục Yên, Trấn Yên đến các vùng mới được giải phóng như Văn Chấn, Than Uyên, phong trào khai hoang, phục hóa, làm vụ chiêm, trồng màu, làm thuỷ lợi, bón phân chuồng diễn ra sôi nổi. Việc lập tổ đổi công, tổ đoàn kết sản xuất, tổ liên gia, quỹ nghĩa thương được đông đảo nhân dân đồng tình tham gia.

Nhờ các chủ trương, biện pháp đúng đắn trên, kinh tế Yên Bái có sự phát triển đáng kể. Diện tích cấy lúa hai vụ từ 8000 ha (1951) tăng lên hơn 18.000 ha (1953). Diện tích các loại rau màu được mở rộng liên tục. Chỉ tính riêng 14 xã vùng cao Văn Chấn trong năm 1953 đã gieo trồng được hàng chục tấn ngô giống và một diện tích lớn khoai, sắn. Nhờ những thành quả đạt được, tỉnh đã giải quyết cơ bản nạn đói lúc giáp hạt; hoàn thành nộp thuế nông nghiệp sớm thứ 2 trong cả nước với mức tăng gấp 2,5 lần so với năm 1951. Từ trong phong trào thi đua, nổi lên nhiều gương mặt thanh niên tiên tiến xuất sắc điển hình, được kết nạp vào Đảng. Công tác chỉnh huấn Đảng và củng cố bộ máy chính quyền cũng được Tỉnh ủy hết sức quan tâm. Bộ máy chính quyền mới ở tất cả các xã được kiện toàn lại, thể hiện rõ vai trò là chính quyền của nhân dân lao động, đóng vai trò quyết định thực hiện thắng lợi đường lối chính sách của Đảng và chính phủ.

Đời sống được cải thiện rõ rệt, thanh niên và nhân dân Yên Bái càng phấn khởi thi đua sản xuất, tích cực tham gia các hoạt động văn hóa, xã hội. Tỉnh ủy còn tích cực động viên thanh niên tòng quân. Trong đợt tòng quân từ tháng 10 đến tháng 11-1953, gần 1.000 thanh niên đã tham gia, cụ thể là: Trấn Yên: 241 người; Lục Yên: 293 người; Văn Bàn: 102 người; Than Uyên: 30 người; Văn Chấn: 45 người. Không khí phấn khởi, tưng bừng, nhộn nhịp cùng với sự thay đổi mạnh mẽ của hậu phương được nhanh chóng truyền đến cán bộ, chiến sĩ ngoài mặt trận, đến các đoàn dân công hoả tuyến đã động viên mọi người thêm tin tưởng và quyết tâm phấn đấu hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ.

Về phía thực dân Pháp, ngay sau khi toàn tỉnh được giải phóng, chúng đã thả các toán biệt kích xuống Văn Chấn, Văn Yên, Văn Bàn để bắt liên lạc với tàn quân địch tìm cách chống phá sự nghiệp cách mạng của quân và dân Yên Bái.

Trước những âm mưu và hành động thâm độc của địch, Tỉnh đã chỉ đạo thanh niên và các lực lượng vũ trang địa phương truy quét bọn biệt kích nhảy dù. Tỉnh còn kêu gọi nhân dân đấu tranh vạch mặt bọn phản động ở các địa phương. Quân dân Yên Bái đã bắt được 55 tên phản động, biệt kích và tiêu diệt một số tên khác.

Tháng 10-1953, chúng liên tiếp tổ chức các cuộc tập kích cướp phá gây hoang mang trong nhân dân. Đến cuối năm 1953, riêng ở Than Uyên, lực lượng phỉ có tới 2.000 tên.

Trước tình hình ấy, Tỉnh ủy Yên Bái xác định: Tiễu phỉ là một công tác quan trọng, gay go đối với địa phương thời gian này mở đầu bằng chiến dịch Bắc Lai tháng 11-1953 đã đánh tan các cụm phỉ ở Sa Pa, Bát Sát, Tam Đường và  Bình Lư. Thanh niên đã cùng với các tầng lớp nhân dân kiên trì ba cùng (cùng ăn, cùng ở, cùng làm) với dân, từng bước tuyên truyền, giáo dục giác ngộ lực lượng phản động. Đặc biệt phải kể đến đội phụ nữ gồm 159 chị em làm công tác phỉ vận bằng sự kiên trì và khéo léo của mình.

Bằng nhiều biện pháp và lòng quyết tâm cao, từ tháng 7-1954 đến giữa năm 1955 quân ta tiêu diệt, bắt và gọi hàng hơn 1.000 tên phỉ còn lẩn trốn, thu nhiều vũ khí, góp phần đập tan hoàn toàn âm mưu gây phỉ của thực dân Pháp, một lần nữa khẳng định sức mạnh của tuổi trẻ và nhân dân Yên Bái.

Từ năm 1953, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ngày càng quyết liệt, đòi hỏi phải huy động đến mức cao nhất sức người, sức của của nhân dân. Đặc biệt, từ sau những thất bại nặng nề ở Tây Bắc, Thượng Lào (4-1953) và các mặt trận khác trên chiến trường Đông Dương, tháng 7-1953 thực dân Pháp đưa ra kế hoạch Na-va hòng giành lại thế chủ động chiến lược trên chiến trường chính, chuyển bại thành thắng. Để thực hiện kế hoạch đặt ra, thực dân Pháp có nhiều hành động gây thanh thế.

Ngày 6-12-1953, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ. Quân và dân tỉnh Yên Bái có nhiệm vụ phục vụ chiến dịch giành thắng lợi. Nêu cao khẩu hiệu "tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng", các tầng lớp nhân dân Yên Bái mà đi đầu là lực lượng trẻ quyết tâm đem hết sức mình hoàn thành nhiệm vụ. Đầu tiên là việc xây dựng củng cố lực lượng địa phương, dân quân du kích được xúc tiến hết sức khẩn trương. Chỉ trong vòng mấy tháng, thanh niên trong toàn tỉnh đã vận động hầu hết lực lượng trẻ tham gia vũ trang. Đến tháng 2-1954, tỉnh đã xây dựng, củng cố được thêm một tiểu đoàn, 5 đại đội và hàng ngàn quân du kích. Hàng ngàn chị em phụ nữ hăng hái tham gia các đơn vị thanh niên xung phong, dân công cùng với nam thanh niên góp sức vào chiến dịch mở đường từ Hiên (Tuyên Quang) đi Ba Khe đến đường 41 (Sơn La). Chỉ trong vòng 3 tháng (tháng 8 đến tháng 11-1953) các địa phương trong tỉnh đã huy động hàng chục nghìn dân công với 1.638.000 ngày công sửa và làm mới 188km đường đảm bảo xe ô tô có thể chạy giữa căn cứ địa Việt Bắc và Tây Bắc.

Bước vào chiến dịch Điện Biên Phủ, các cấp ủy Đảng, chính quyền đã kịp thời tổ chức, động viên và huy động được 31.652 thanh niên tham gia dân công làm 1.650.740 công, 2.700 công thuyền máy, 650 công xe đạp thồ phục vụ tiền tuyến. Yên Bái đã cung cấp cho mặt trận Điện Biên Phủ 1.840 tấn gạo, 1.200 con trâu bò, 489 con lợn và hàng chục tấn rau xanh.

Từ cuối năm 1953, địch tập trung đánh phá ác liệt các tuyến đường chiến lược chạy qua tỉnh. Riêng tuyến 13A từ Yên Bái đến giáp Sơn La địch đã thả xuống hơn 11.778 quả bom các loại, trong đó có 503 bom nổ chậm. Các nơi bị máy bay giặc bắn phá ác liệt nhất là bến phà Âu Lâu, đèo Lũng Lô. Hơn hai trăm ngày đêm trên tuyến đường này không lúc nào im tiếng bom đạn nổ.  Tuy vậy, vẫn không thể ngăn được bước chân và lòng quyết tâm của tuổi trẻ và nhân dân Yên Bái. Hàng vạn đoàn viên, thanh niên đã cùng với toàn dân trong tỉnh khắc phục mọi khó khăn gian khổ, vượt qua đèo cao, suối sâu, mưa rét và các trận mưa bom đạn của địch, với cây gậy và túi hàng trên vai đã vận chuyển được hàng vạn tấn lương thực, thực phẩm, vũ khí ra mặt trận. Hàng nghìn anh chị em thanh niên xung phong phối hợp với các đơn vị công binh anh dũng mở đường, san lấp hố bom, phá bom nổ chậm, sửa chữa cầu phà bảo đảm tuyến đường luôn luôn thông suốt, tăng cường lượng vận chuyển qua bến phà Âu Lâu. Trên khắp các ngả đường đâu đâu cũng thấy bóng dáng thanh niên mặc cho bom rơi đạn nổ, họ vẫn quyết tâm một lòng bám trụ, đảm bảo an toàn, thông suốt nhất là trên con đường huyết mạch Yên Bái - Ba Khe - Sơn La. Đóng góp này của quân và dân Yên Bái đã góp phần to lớn trong chiến thắng vĩ đại, chấn động địa cầu và đi tới kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân xâm lược của dân tộc buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ (20-7-1954) công nhận chiến thắng của dân tộc ta.

Từ Cách mạng Tháng Tám đến chiến thắng Điện Biên Phủ, tuổi trẻ và nhân dân Yên Bái đã cùng với tuổi trẻ và nhân dân cả nước trải qua chặng đường dài 10 năm chiến đấu và xây dựng đầy hy sinh gian khổ nhưng thắng lợi vẻ vang.

Dưới ngọn cờ của Đảng quang vinh và Bác Hồ vĩ đại, được sự quan tâm, chỉ đạo của Đảng bộ, các cấp chính quyền, đoàn viên, thanh niên Yên Bái đã xứng đáng là đội quân xung kích, đi đầu vượt lên mọi khó khăn, gian khổ kiên cường anh dũng chiến đấu, cùng nhân dân đánh thắng kẻ thù xâm lược giành thắng lợi vẻ vang.

Chiến thắng Điện Biên Phủ đã giải phóng hoàn toàn miền Bắc nước ta, cùng với cả nước, tuổi trẻ và nhân dân Yên Bái bước vào thời kỳ hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế, cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tuổi trẻ Yên Bái lại hăng hái đi đầu trên các mặt trận sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp, xây dựng đời sống mới... hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước giao phó, xứng đáng là đội hậu bị tin cậy của Đảng.



(1) Tỉnh Yên Bái một thế kỷ. Năm 2003.

(1) Đây là 2 trong số 34 đại biểu là người dân tộc ít người của Quốc hội khoá I. Về sau ông Cầm Ngọc Lương - dân tộc Thái bị tước quyền đại biểu Quốc hội.

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, trang 480. NXB Chính trị Quốc gia, H. 1995.

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, tr 26. NXB Chính trị Quốc gia. H,1995.

(1) Liệt sĩ Hoàng Văn Thọ sinh ngày 13-5-1932 trong một gia đình nông dân người Tày ở Thanh Tú, xã Đại Lịch, huyện Văn Chấn. Cha là Hoàng Văn ích, thày dạy Quốc ngữ nhưng giỏi chữ Nho và rất thương người nghèo; mẹ là một phụ nữ sống hiền lành, chịu khó.

Hoàng Văn Thọ hy sinh ngày 20-11-1947 được Nhà nước truy tặng Bằng Tổ quốc ghi công, Huân chương Kháng chiến hạng 3 và danh hiệu Anh hùng, Liệt sĩ chống Pháp.

(1) Theo nhà văn Hà Lâm Kỳ, tác giả truyện ký "Kỷ vật cuối cùng" Nxb Kim Đồng 1991 và truyện ký "Chim ri núi", Nxb Kim Đồng 1992.

(1) Đội trưởng là Lý Nủ Chu, đội phó là Giàng Sáng Tu. Đây là đội du kích nổi tiếng chống Pháp những năm 1947-1952. Sau này xã Cao Phạ (địa bàn hoạt động của Đội) được phong danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân.

(1) Chiến dịch Biên Giới chia làm 2 hướng: Hướng chính của chiến dịch là vùng Đông Bắc (Cao Bằng - Lạng Sơn); hướng phụ là Tây Bắc (Lào Cai - Yên Bái). Hướng phụ được gọi là màn 2 của chiến dịch Lê Hồng Phong.

(1) Trích Nghị quyết cán bộ thanh niên toàn quốc (Theo Chỉ thị "Chấn chỉnh công tác thanh vận, thực hiện thanh niên thực sự làm động cơ ở mọi ngành công tác" của BCH Tỉnh Đảng bộ Yên Bái ngày 13-6-1951).