• Loading...
 
Lịch sử Đoàn TNCS Hồ Chí Minh - Chương III
Ngày xuất bản: 20/03/2017 10:05:00 SA
Lượt xem: 401

Thế hệ trẻ Yên Bái xây dựng, bảo vệ 
Chủ nghĩa xã hội và chống Mỹ cứu nước 
(1954 - 1975)

                  I. Góp phần quan trọng khắc phục hậu quả chiến tranh và thực hiện thắng lợi cuộc vận động tăng cường đoàn kết dân tộc, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội (1954 - 1960).

Yên Bái được giải phóng từ cuối năm 1952 bằng chiến thắng Nghĩa Lộ oai hùng. ở đó, bao nhiêu lớp trẻ Yên Bái đã đóng góp công sức của mình cùng đoàn quân giải phóng.

Tuy được giải phóng từ cuối năm 1952 nhưng Yên Bái vẫn còn phải huy động sức người sức của để cùng toàn quân, toàn dân tham gia đánh giặc trên các mặt trận, các vùng đất, nhất là chiến dịch Điện Biên Phủ, cho nên chưa có nhiều điều kiện đầu tư vào việc xây dựng quê hương, khôi phục kinh tế, phát triển văn hoá, củng cố chế độ mới.

Phải đến sau khi hoà bình lập lại trên toàn miền Bắc, công cuộc khắc phục hậu quả chiến tranh, đẩy mạnh việc củng cố chính quyền, xây dựng và phát triển kinh tế ở Yên Bái mới thực sự có cao trào và đạt những kết quả.

Và cùng với bước tiến đó, lực lượng trẻ Yên Bái càng thêm khẳng định vai trò trong việc xây dựng quê hương. Tất cả đang nô nức, hồ hởi, hăng hái bước vào một cuộc chiến đấu mới với rất nhiều thử thách không kém phần ác liệt.

               1. Khắc phục hậu quả chiến tranh. Cuộc vận động tăng cường khối đoàn kết dân tộc. Bảo vệ an ninh xã hội (1954-1957).

Sau gần trăm năm bị áp bức bởi chính sách cai trị của thực dân Pháp và bọn tay sai, sau những nỗ lực đóng góp vào chiến tranh giành độc lập cho Tổ quốc, nhân dân và tuổi trẻ các dân tộc Yên Bái bước sang giai đoạn mới đầy hứng khởi của người dân được độc lập, tự do, đồng thời cũng vấp phải vô vàn khó khăn, thử thách.

Kinh tế nghèo nàn, chủ yếu là tự cung tự cấp và thiếu đói triền miên. Hơn 2000 mẫu ruộng hoang hoá. Thiên tai bất thường và khắc nghiệt. Một phần không nhỏ đồng bào dân tộc ít người quen sống du canh, du cư, phá rừng làm nương rẫy. Hàng vạn người sống trong cảnh đói rét, bệnh tật, lạc hậu. Tệ nạn mê tín dị đoan, nghiện hút, các thứ hủ tục ngang nhiên phát triển.

Tình hình an ninh trật tự nhiều phức tạp, nhất là sự quấy nhiễu của nạn phỉ. Hệ thống giao thông đường sắt, đường bộ vốn đã ít ỏi lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Biết bao nhiêu là vấn đề nóng bỏng cần giải quyết nhanh và đồng bộ. Được sự lãnh đạo và chỉ đạo sát sao cụ thể của Tỉnh uỷ, tuổi trẻ Yên Bái đã đi đầu trong việc thực hiện các nhiệm vụ lớn: Tiễu phỉ, củng cố an ninh xã hội; khai hoang, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, khắc phục nạn đói; tiếp tục hoàn thành cải cách ruộng đất, từng bước cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới.

Qua mỗi hoạt động, theo từng ngày từng tháng, tổ chức Đoàn cũng được hình thành rộng rãi hơn trên các địa bàn dân cư, tập hợp thêm được những lực lượng trẻ.

Trước hết là vấn đề an ninh trật tự xã hội. Bọn phản động đội lốt tôn giáo ra sức tuyên truyền, lôi kéo đồng bào theo đạo di cư vào Nam. Hàng trăm gia đình giáo dân đã bị lừa bịp theo chúng, chủ yếu là ở huyện Yên Bình. Nhưng đặc biệt nguy hiểm là hoạt động của bọn phỉ có dấu hiệu gia tăng và liên kết chặt chẽ. Bọn cầm đầu Phỉ ở Than Uyên, Văn Bàn, vùng cao Văn Chấn, thượng huyện Lục Yên, câu kết với bọn phỉ ở Sa Pa, Bát Xát (Lào Cai) tạo nên một vùng bất an khi thì âm ỉ, khi thì quyết liệt khắp phía Tây Bắc đất nước.

Bọn chúng tung tin xuyên tạc, bịa đặt nhằm chia rẽ nội bộ, ly gián quân dân, kích động hận thù giữa các dân tộc. Nhiều trường hợp chúng xúi giục, hoặc tổ chức gây rối, sát hại cán bộ...

Để kịp thời phá tan âm mưu thủ đoạn của địch, Tỉnh uỷ Yên Bái đã căn cứ vào chủ trương của TW Đảng, mở đợt tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân về thắng lợi to lớn của quân dân ta, về thất bại thảm hại của thực dân Pháp và bọn tay sai đầu sỏ, kêu gọi người lầm đường ra đầu thú, khoan hồng với những người biết quay về chính nghĩa, kiên quyết truy lùng và trừng trị bọn trùm phỉ ngoan cố. Từ giữa đến cuối năm 1954, tinh thần bọn phỉ đầu sỏ sa sút nghiêm trọng, vì Pháp đã hoàn toàn bỏ rơi chúng. Phần thì hiểu rõ thắng lợi và chính sách khoan hồng của ta, phần thì bị truy lùng gắt gao, bọn phỉ tan rã từng đám, ra hàng cũng lắm mà bị bắt cũng nhiều.

Một vấn đề bức bối thường xuyên đe doạ đời sống đồng bào là nạn đói rách, bệnh tật,... Tuổi trẻ lại đi đầu trong cuộc chiến đấu này. Trong hai năm 1955 - 1956, dưới sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng và chính quyền, lực lượng thanh niên đi đầu và kêu gọi nhân dân các dân tộc khai hoang, trồng các cây màu ngắn ngày.

Trên toàn miền Bắc cũng đã bước vào một giai đoạn mới khi những tên thực dân Pháp cuối cùng cuốn gói: Ngày 24 tháng 4 năm 1955, quân Pháp rút khỏi Hồng Quảng, ngày 13 tháng 5 rút khỏi Hải Phòng và tên lính Pháp cuối cùng đã rời đảo Cát Bà vào ngày 22 tháng 5 năm 1955. Một nửa nước đã hoàn toàn được giải phóng. Đó là thắng lợi hào hùng của nhân dân ta, của tuổi trẻ Việt Nam sau những năm tháng chiến đấu gian khổ quật cường. Có thể liên hệ tới một hình tượng thơ hoành tráng và giản dị:

Nước Việt Nam từ máu lửa

Giũ bùn đứng dậy sáng lòa

Tháng 3 và tháng 8 năm 1955, các Hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã khẳng định: "Củng cố miền Bắc về mọi mặt là nhiệm vụ rất quan trọng vì miền Bắc có được củng cố ta mới có đủ lực lượng để củng cố hoà bình thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong toàn quốc".(2)

Cùng năm đó ngày 19 tháng 10, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra nghị quyết đổi tên Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam thành Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam. Thông qua việc học tập đổi tên Đoàn, cán bộ Đoàn các cấp và toàn thể đoàn viên, thanh niên đã trao đổi, học tập, để hiểu thêm yêu cầu của thời kỳ mới, hướng trí tuệ và sức lực vào việc xây dựng củng cố quê hương đất nước.

Tuổi trẻ Yên Bái cùng tuổi trẻ cả nước náo nức, tưng bừng đón nhận tên mới của Đoàn: Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam. Hoà trong niềm vui ấy là những thắng lợi trong công cuộc khắc phục hậu quả chiến tranh, tăng cường khối đoàn kết các dân tộc, bảo vệ an ninh xã hội, là  Đại hội Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam tỉnh Yên Bái lần thứ II đã được khai mạc tại thị xã Yên Bái (tháng 8 năm 1956). Đồng chí Đoàn Viết Trí tiếp tục đảm nhận trọng trách: Thường trực Đảng - Đoàn Thanh niên tỉnh (từ 1945 - 1958). (Sau đó đồng chí Hoàng Kim Phấn nhận nhiệm vụ này đến Đại hội Đoàn toàn tỉnh lần thứ III (1961) thì chính thức được bầu làm Bí thư).

Trong khí thế ấy, ngày 25 tháng 10 năm 1956, Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ II đã khai mạc tại Hà Nội với 479 đại biểu thay mặt gần nửa triệu đoàn viên. Đồng chí Đoàn Viết Trí - Thường trực Đảng  - Đoàn Thanh niên tỉnh làm Trưởng đoàn đã cùng đoàn đại biểu Yên Bái đi dự Đại hội này.

Đại hội đã đề ra nhiệm vụ của Đoàn trong thời kỳ mới của cách mạng là "Động viên mọi người, mọi tầng lớp thanh niên đem hết sức lực, trí tuệ của mình vào công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển văn hoá, củng cố quốc phòng, tham gia tích cực vào công cuộc củng cố miền Bắc, tiến dần từng bước lên chủ nghĩa xã hội, làm cơ sở vững chắc cho sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà".

Những đại biểu thanh niên của tỉnh Yên Bái đi dự Đại hội trở về đã truyền đạt tinh thần Nghị quyết Đại hội tới từng cơ sở, từng đoàn viên. Họ cũng nhắc đến lời dạy của Bác trong Đại hội: "Muốn đoàn kết, củng cố và phát triển thì tất cả đoàn viên phải gương mẫu:

- Phải giữ vững đạo đức cách mạng; Phải khiêm tốn, cần cù, hăng hái, dũng cảm; phải tránh tư tưởng kiêu ngạo, công thân, tự tư tự lợi.

- Phải xung phong trong mọi công tác; xung phong đi trước, làm trước để lôi cuốn quần chúng, chứ không phải là xa rời quần chúng.

- Phải cố gắng học tập chính trị, văn hoá nghề nghiệp để tiến bộ mãi, để sẵn sàng trở thành cán bộ tốt, đảng viên tốt.

- Phải rèn luyện thân thể cho khoẻ mạnh, khoẻ mạnh thì mới có đủ sức để tham gia một cách dẻo dai, bền bỉ những công việc ích nước, lợi dân.

Thanh niên nhớ những điều đó, thực hiện những điều đó thì sẽ làm tròn nhiệm vụ của mình, sẽ tiến kịp thanh niên các nước bạn"(1).

Yên Bái là một tỉnh nghèo, vấn đề đặt ra sau chiến tranh trước hết phải đem lại cơm no, áo ấm cho mọi người dân. Tháng 3 năm 1956, Yên Bái có hàng vạn người dân bị đói... Bởi vậy, việc khai hoang, phục hoá, giúp đỡ lẫn nhau, lá lành đùm lá rách được tỉnh đẩy mạnh. Nhà nước thì trợ giúp, cho vay, đẩy mạnh thu mua lâm thổ sản. Năm 1955, tỉnh đã trợ giúp cứu đói cho hơn 1.200 gia đình ở vùng cao Văn Bàn, Than Uyên, Văn Chấn. Năm 1956 nhân dân đã giúp nhau 123 tấn lương thực, 1.117.300 đồng (Giá thịt lợn những năm 1956, 1957 trung bình  từ 2 đến 3 nghìn đồng 1 kilôgam)(1). Nhà nước cho dân đói vay 35 tấn thóc giống, cấp cho người quá nghèo 34.743 mét vải, 273 chiếc khăn. Mậu dịch xuất 15.720.946 đồng thu mua lâm thổ sản của dân. Riêng huyện Yên Bình, cuối 1955 đầu 1956 cho dân vay 54 tấn thóc, vận động người giàu giúp người nghèo hơn 4 tấn thóc và số vải may quần áo cho hơn một ngàn người...

Tỉnh uỷ Yên Bái đề ra một loạt biện pháp nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp và lấy lực lượng trẻ làm xung kích.

Năm 1956, Yên Bái có trên 3700 tổ đổi công, thu hút 86% hộ nông dân tham gia, trong đó có 22% tổ đổi công thường xuyên. Riêng Văn Chấn tỷ lệ nông dân tham gia tổ đổi công lên tới 90,1%, trong 1000 tổ có 25% là tổ đổi công thường xuyên. Phong trào tổ đổi công phát triển thực sự đã tạo điều kiện để nông dân giúp nhau trong lao động và đời sống, đem lại mối quan hệ bền chặt thắm thiết tình làng nghĩa xóm. Đó cũng là cơ sở để tuổi trẻ hoạt động và tạo điều kiện phát triển Đoàn.

Công tác thuỷ lợi rất được chú trọng. Năm 1956, toàn tỉnh làm được 116 mương và 129 phai, đảm bảo chủ động tưới nước cho 7.761 hecta ruộng, chiếm 30% diện tích canh tác.

Báo Tiền Phong số 17/11/1956 có bài "Thanh niên Văn Chấn làm đầu tàu trong mọi công tác". Nội dung bài báo có đoạn "Thời gian vừa qua châu Văn Chấn (Yên Bái) bị nạn chuột phá hoại rất nhiều, hưởng ứng chủ trương của Đảng, Đoàn Thanh niên đã động viên đông đảo đoàn viên và thanh niên tham gia làm bẫy và diệt chuột". "Chỉ trong 7 ngày đã diệt hàng nghìn con... Các xã Cát Thịnh, Bình Thuận và Đông Khê, thanh niên đã tổ chức được 20 đội và 10 tổ săn chuột, dựng 17 cái chòi để canh thú rừng phá hoại nương rẫy...".

Báo Tiền Phong ngày 17 tháng 4 năm 1957 đưa tin "Ngày 8/4/57 BCH TW Đoàn TNLĐ Việt Nam đã quyết nghị cấp bằng khen cho chi đoàn xã Cổ Phúc và Huyện Đoàn Trấn Yên (Yên Bái)" vì "đã lãnh đạo đoàn viên cùng với nhân dân đào mương chống hạn kịp thời, tránh được lãng phí nhân công, bảo vệ mùa màng không bị thú rừng phá hại, lấy công tác thực tế để giải quyết mâu thuẫn nội bộ, tăng cường đoàn kết dân tộc, lương giáo và cải tiến kỹ thuật trong canh tác, vận động làm bừa cỏ Nghệ An đạt thành tích".

Thanh niên Yên Bái trong 3 năm 1955 - 1957 đã góp sức cùng tuổi trẻ cả nước đóng góp trên 10.000.000 ngày công chống hạn, sửa chữa, khôi phục đưa vào sử dụng 6 công trình thuỷ nông lớn và hàng chục công trình hạng vừa, góp một phần giải quyết tưới và tiêu nước cho đồng ruộng, góp phần cho lúa được mùa. Cùng thời gian từ 1955 - 1957, Nhà nước điều hoà cho Yên Bái hơn 1.000 con trâu cày, kéo; vận chuyển bán cho vùng cao của tỉnh gần 1 vạn nông cụ cải tiến, bước đầu đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất.

Tất cả những hoạt động trên, mà lực lượng nòng cốt đi đầu bao gồm thanh niên ở khắp vùng nông thôn, thị xã, thị trấn, các trường trung học... đã đem lại hiệu quả đáng kể. Năm 1956, cả Yên Bái được mùa, đạt 52.000 tấn thóc và màu... Bình quân lương thực đạt 410kg/người/ năm. Châu Văn Chấn năm 1957 đạt 14.952 tấn lương thực, đảm bảo đủ nhu cầu tại chỗ.

Năm 1957 cũng là năm Yên Bái hoàn thành việc sửa sai sau cải cách ruộng đất. Những cán bộ bị xử lý oan được minh oan và trả lại quyền lợi, chức vụ. Hệ thống tổ chức Đảng và chính quyền, nhất là ở xã được xây dựng và củng cố. Lực lượng của Đoàn cũng được phát triển và phát huy tác động trên nhiều mặt trận quan trọng trong khôi phục kinh tế, phát triển mọi mặt của xã hội.

Về giáo dục, đến năm học 1956 - 1957 hệ thống giáo dục phổ thông từ cấp I đến cấp III đã hình thành. Khai giảng năm học 1957 - 1958, toàn tỉnh có 102 trường phổ thông với số học sinh tăng gần gấp đôi năm học 1954 - 1955. Mạng lưới y tế được mở rộng nhanh chóng: Bệnh viện tỉnh, trạm xá ở các huyện và một số xã đã chú trọng chăm lo sức khoẻ cho nhân dân, cho lớp trẻ và các em nhỏ.

Lực lượng trẻ đã làm nòng cốt thực hiện chủ trương tu bổ đường 13A, sửa các đường liên huyện, liên xã. Phong trào làm đường ở nông thôn phát triển mạnh mẽ.

Đầu năm 1955, Trung ương Đảng và Chính phủ cho khôi phục đường sắt Hà Nội - Lào Cai. Hàng vạn công lao động của tuổi trẻ, nhiều sáng kiến, tiết kiệm đã tạo thành hàng nghìn mét khối gỗ. Như 82.000 tà vẹt gỗ, 21.000 thanh ray và hơn 100 ngàn tà vẹt sắt đã được góp nhặt để phục vụ hoàn thành công trình theo dự tính. Ngày 30 tháng 3 năm 1956, chuyến tàu đầu tiên từ Hà Nội đã vào ga Yên Bái trong sự nô nức chào đón của nhân dân và tuổi trẻ Yên Bái.

Phong trào thi đua tiết kiệm mà cụ thể là vận động thanh niên thu lượm vật liệu luôn luôn được duy trì ở nhiều cơ sở, được nhiều đoàn viên, thanh niên hưởng ứng, đem lại những hiệu quả cụ thể.

"Hưởng ứng lời kêu gọi sản xuất tiết kiệm của Bác, thanh niên phân đội 3, đại đội đại tu đường phía tây Yên Bái đã phát động phong trào thu lượm vật liệu từ ngày 3 tháng 3 đến ngày 19 tháng 5. Anh em đã xung phong vào rừng sâu, xuống suối mò ray tà vẹt, tranh thủ giờ nghỉ đi thu nhặt từ miếng sắt vụn. Kết quả đã thu nhặt được 829 thanh tà vẹt, 1.350 cân sắt vụn, 7 thanh ray, 168 chiếc lập lách. Cân tất cả được 50.492 cân sắt..." (Báo Nhân dân - phát hành cho nông thôn - số 427, năm 1957).

Trong thời kỳ này, thanh niên Yên Bái cũng như thanh niên toàn miền Bắc đã đi đầu trong ba cuộc cách mạng: Cách mạng quan hệ sản xuất, Cách mạng khoa học kỹ thuật và Cách mạng tư tưởng văn oá. Đây thực sự là một phong trào sôi nổi, hồ hởi của toàn dân, nhất là của tuổi trẻ.

- Về quan hệ sản xếât: Đoàn viên và thanh niên đã gương mẫu đi đầu vận động gia đình, vận động bà con họ hàng, làng xóm vào hợp tác xã. Gia đình thanh niên nào chưa vào hợp tác xã thì thanh niên ấy khổ tâm lắm, coi như một điều thua kém bạn bè, không xứng đáng với tuổi trẻ. Lúc đó một trong những tiêu chuẩn cơ bản hàng đầu để kết nạp đoàn viên chính là tiêu chuẩn gia đình đã vào hợp tác xã hay chưa.

- Về khoa học xã hội: Thanh niên đi đầu trong việc học tập và áp dụng các biện pháp kỹ thuật vào sản xuất. Như nông nghiệp có phong trào làm và dùng phân bón đúng kỹ thuật, cấy dầy, cấy chăng dây thẳng hàng, đưa giống mới vào nuôi trồng. Trong công nghiệp là "Luyện tay nghề, thi thợ giỏi", phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật.

- Về văn hoá tư tưởng: Thanh niên đi đầu trong việc xây dựng nếp sống mới, bài trừ những tệ nạn lạc hậu như: Mê tín dị đoan, ma chay, cưới xin lạc hậu, nghiện hút, cờ bạc…

Nhiều đoàn viên, thanh niên được Đoàn cử ra làm giáo viên bổ túc văn hoá xoá nạn mù chữ cho đồng bào và bạn cùng trang lứa.

Các phong trào văn nghệ, thể dục thể thao phát triển rầm rộ, đều khắp, tự giác. Các thôn, xã đều có đội, có tổ văn nghệ hoạt động rất sôi nổi.

Trong chương trình sinh hoạt Đoàn, bao giờ cũng có thêm thời gian học hát, học múa rất hăng say, trẻ trung.

              2. Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội (1958 - 1960).

Thắng lợi của gần 4 năm khôi phục kinh tế - xã hội (1954 - 1957) đã tạo ra những biến đổi quan trọng ở Yên Bái. Những biến đổi tốt đẹp đó thực sự là niềm động viên nhân dân và tuổi trẻ Yên Bái trong lao động sản xuất và công tác trong thời gian tiếp theo.

Đặc biệt là tình đoàn kết giữa các dân tộc ngày càng được củng cố rộng rãi. Hoạt động của tuổi trẻ ở các trường học, ở nông thôn, ở các đô thị thực sự là nòng cốt trong việc nối liền và kết bền chặt các mối đoàn kết dân tộc này. Về địa lý hành chính, trong khoảng từ 1955 - 1960 tỉnh Yên Bái có nhiều biến động, có lúc hai huyện Văn Chấn và Than Uyên tách khỏi tỉnh để vào khu tự trị Thái - Mèo (Khu tự trị thành lập tháng 5 năm 1955), việc tái lập thị xã Yên Bái (7/4/1956) cũng như việc tiếp nhận huyện mới Yên Bình, hoặc chia tách, nhập các xã ở các huyện... Cùng với việc thay đổi các đơn vị hành chính đó là việc tổ chức Đoàn cũng phải biến động cho phù hợp.

Trong thời điểm này, một niềm vui lớn đã đến với tuổi trẻ và đồng bào các dân tộc Yên Bái, ngày 24 tháng 9 năm 1958 Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu phái đoàn Đảng và Chính phủ lên thăm Yên Bái.

Ngày hôm sau, 25 tháng 9, hơn 5000 cán bộ, nhân dân, trong đó có rất nhiều gương mặt trẻ, đầy háo hức sung sướng được dự mít tinh chào mừng Bác và phái đoàn. Bác đã ân cần thăm hỏi, động viên và căn dặn đồng bào và tuổi trẻ các dân tộc Yên Bái phải đoàn kết chặt chẽ, tạo nên sức mạnh tổng hợp, thực hiện tốt nhiệm vụ cách mạng. Bác kêu gọi mọi người tích cực tăng gia sản xuất, tăng vụ, bỏ lệ cấy chay, cải tiến kỹ thuật, tạo ra năng suất cao, lương thực nhiều, xây dựng đời sống ngày càng ổn định, no đủ. Bác nhắc nhở đồng bào vùng núi phải định canh, định cư để ổn định sản xuất và cuộc sống. Bà con nông dân cần tham gia tổ đổi công, vào hợp tác xã và làm tròn nghĩa vụ đóng thuế nông nghiệp. Cuối cùng, Bác khuyên mọi người phải tiết kiệm trong tiêu dùng, phải giữ lấy thuần phong mỹ tục của dân tộc, đồng thời phải bài trừ những hủ tục lạc hậu trong ma chay, cưới xin của chế độ phong kiến trước đây.

Thay mặt nhân dân các dân tộc trong tỉnh, đồng chí Nguyễn Văn Đức - Bí thư Tỉnh uỷ hứa với Bác sẽ tăng cường đoàn kết trong toàn Đảng, toàn dân, ra sức phấn đấu thực hiện thắng lợi toàn diện những lời dạy của Người.

Bác Hồ và đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ đến thăm Yên Bái không chỉ đem đến sự quan tâm, săn sóc của Đảng, của Bác với nhân dân và tuổi trẻ địa phương mà còn là nguồn cổ vũ to lớn đối với phong trào cách mạng của địa phương, đối với hoạt động của tuổi trẻ địa phương.

Niềm vui đó, sự động viên đó đã được tuổi trẻ và nhân dân Yên Bái chuyển vào công việc hàng ngày với những cố gắng nỗ lực trên đồng ruộng, trong trường học, ở đơn vị bộ đội, thanh niên xung phong...

Một thí dụ trong hàng trăm ngàn gương tốt của tuổi trẻ Yên Bái lúc bấy giờ được ghi lại trên báo Tiền Phong số ra ngày 9 tháng 1 năm 1959. Bài báo viết về thanh niên ở Tổ đổi công xóm 2 xã Vân Hội "làm ngày, làm đêm quyết thu hoạch một vụ Đông - Xuân đại thắng lợi".

Công việc đã bận rồi, đã kín thời gian rồi, nên anh chị em thanh niên trong tổ quyết định tận dụng các giờ buổi  trưa và tối. "Mỗi tuần, ngoài những lúc đi làm với tổ đổi công, với gia đình, tổ thanh niên làm thêm 5 buổi trưa và tối".

Khi bắt tay vào việc thì lại gặp sự cản trở của gia đình, bên ngoài có người nói: "Làm lấy ăn hay làm lấy chết". Anh chị em vừa làm vừa thuyết phục gia đình, vừa nhờ Tổ đổi công giải thích cho cha mẹ cho bà con trong xóm.

Bằng sức lao động làm thêm buổi trưa và tối một thời gian, tính đến đầu tháng 12 - 1958, tổ thanh niên đã làm thêm được 178 giờ, khai hoang được 3 sào ruộng cấy chiêm, lấy được 300 gánh bùn, 164 gánh phân xanh, 50 gánh rác và gio, dùng cày 51 và cải tiến kĩ thuật gieo mạ, sửa 500 thước mương dẫn nước.

Tinh thần tích cực lao động của thanh niên đã gây nên một không khí mới trong xóm, thúc đẩy phong trào sản xuất sôi nổi hơn...".

*
*   *

Trung tuần tháng 11 năm 1958, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá II) đã họp Hội nghị lần thứ 14, đề ra nhiệm vụ kế hoạch Ba năm (1958 - 1960) phát triển kinh tế văn hoá. Nghị quyết chỉ rõ phải đẩy mạnh sản xuất nhất là sản xuất nông nghiệp, cải tạo thủ công nghiệp, công thương nghiệp theo hướng CNXH, tiến hành hợp tác hoá nông nghiệp trên cơ sở phát triển văn hoá tinh thần, nâng cao đời sống của nhân dân.

Sau Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Yên Bái lần thứ III (từ 30/1 đến 4/2/1959), Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 14 của Ban Chấp hành TW Đảng đã được cụ thể hoá thành những nhiệm vụ trong từng thời gian.

Tỉnh uỷ Yên Bái đã xác định nhiệm vụ hợp tác hoá nông nghiệp kết hợp hoàn thành cải cách dân chủ là công tác mới, khó khăn và phức tạp. Muốn hoàn thành được nhiệm vụ kế hoạch Ba năm, Đảng bộ phải mạnh, có đường hướng đúng đắn và dựa vào lực lượng của toàn dân trong đó tuổi trẻ là nòng cốt.

Tuổi trẻ Yên Bái trong ba năm 1958 - 1960 đã thực sự đóng góp rất nhiều công sức cho từng bước thắng lợi ở địa phương.

Thanh niên Yên Bái đã đi đầu trong các phong trào "Vắt đất ra nước thay trời làm mưa", "Nghiêng sông đổ nước vào đồng", đẩy lùi nạn hạn hán, phong trào "Sạch làng tốt ruộng", "Kiện tướng nghìn cân..." nhằm chăm sóc ruộng vườn làng xóm.

Các đoàn viên và thanh niên hăng hái tiên phong trong việc thành lập các tổ chức hợp tác xã (HTX) nông nghiệp. Từ thí điểm đầu tiên năm 1958 (2 ở Lục Yên, 2 ở Văn Chấn, với tổng số 115 hộ dân) đến năm 1960 Yên Bái đã có 593 HTX gồm 17.828 hộ, chiếm 77,7% số hộ nông dân toàn tỉnh. Đặc biệt như huyện Lục Yên đến năm 1960 đã cơ bản hoàn thành HTX nông nghiệp; thành lập được 135 HTX, trong đó có 52 đơn vị vùng cao, thu hút 4531 hộ, đạt 83% số hộ nông dân trong huyện. Sức trẻ đóng góp trên các công trình thuỷ lợi lớn nhỏ ở Minh Quân, Đại Đồng, Báo Đáp, Nghĩa Phong, Đại Sơn, Tuy Lộc... đã làm thay đổi chất lượng đồng ruộng quê hương. Cùng với việc cải tiến kỹ thuật trong các khâu canh tác, năng suất lúa năm 1959 đã vượt trội, sản lượng bình quân trên đầu người đã đạt 463kg/ năm cao nhất từ trước đến giờ. Bộ mặt nông thôn từng ngày từng giờ được thay đổi, thu nhập từng hộ cao hơn, đặc biệt là sự phát triển của các công trình phúc lợi tập thể: Trạm xá, nhà trẻ, kho tàng, sân phơi, trại chăn nuôi... Các ngành nghề cũng phát triển cùng với nghề trồng lúa như: Chăn nuôi gia súc, gia cầm, nung vôi, nung gạch, làm mộc, làm rèn...

Ở đâu cũng thấy nét mới trong công việc, ở đâu cũng gặp những gương mặt trẻ trung, thấm đẫm mồ hôi và tươi rói nụ cười.

Các HTX thủ công, vận tải, thương nghiệp lần lượt được xây dựng thu hút nhiều người làm nghề, buôn bán nhỏ ở thị trấn, thị xã. Đến năm 1960, 83% số hộ công thương nghiệp trong tỉnh đã qui tụ trong 64 HTX, với 1677 xã viên.

Năm 1960, các HTX mua bán cũng đã được mở rộng trong 4 huyện gồm 31 cửa hàng. Số vốn tăng 17 lần so với năm 1958. Công tác văn hoá xã hội có bước phát triển toàn diện. Khắp nơi trong tỉnh sôi nổi xuất hiện các phong trào đọc sách báo, văn nghệ quần chúng và phổ biến khoa học kỹ thuật. Đoàn đã tận dụng sách, báo làm phương tiện để giáo dục đoàn viên và giáo dục các em thiếu nhi. Các trường học đều xây dựng được tủ sách. Sách cũng là phương tiện phổ biến khoa học kỹ thuật, tạo điều kiện để Hội phổ biến khoa học của tỉnh được thành lập với 157 hội viên.

Ở đâu cũng thấy các hoạt động nổi bật của tuổi trẻ. Riêng thanh niên toàn tỉnh năm 1960 đã làm được 27 công trình thuỷ lợi nhỏ. Mùa mưa lũ đã có 167 đội xung kích thanh niên, sẵn sàng tuần tra, ứng cứu, kịp thời sửa chữa những hư hỏng do mưa gió gây ra. Thanh niên luôn là nòng cốt trong phong trào làm phân và thuỷ lợi, nhiều chi đoàn đã trở thành "chi đoàn kiện tướng" và trên 100 đoàn viên đạt tiêu chuẩn kiện tướng trong lĩnh vực này.

Sự nghiệp giáo dục đào tạo có nhiều chuyển biến tốt. Cùng với hệ thống giáo dục chuyên nghiệp, tỉnh còn mở rộng hệ thống bổ túc văn hoá các cấp I, II, III, đạt 81,8% kế hoạch, với khoảng 16.500 người dự học. Đã huy động được 11.927 người tham gia học chữ trong phong trào xoá nạn mù chữ, trong đó có gần 4.000 người đã thoát khỏi nạn mù chữ.

Mạng lưới y tế phát triển. Thanh niên gương mẫu và tuyên truyền về phong trào "Ba sạch" trong nhân dân thành thị và nông thôn. Hệ thống trạm xá dân lập tăng mạnh, năm 1958 chỉ có 2 trạm, năm 1960 đã tăng lên 60 trạm.

Cùng với những hoạt động sôi nổi, đi đầu mọi phong trào của thanh niên, công tác chính trị tư tưởng cũng được nâng cao ở các cơ sở Đoàn. Cuối năm 1959, Hội nghị Tỉnh Đoàn Yên Bái, gồm đại biểu các Huyện Đoàn, đủ các thành phần dân tộc Kinh, Tày, Nùng, Mán... đã quyết định mở đợt thi đua lấy tên là "Cờ hồng 6-1" trong thanh niên toàn tỉnh để lấy thành tích chào mừng kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng. (Trước tháng 9 năm 1960, ngày 6 tháng 1 vẫn được coi là ngày thành lập Đảng). Báo Tiền Phong số 216 năm 1959 ghi rõ: "Nội dung đợt thi đua này là ra sức thu hoạch tốt vụ mùa, đồng thời tích cực đẩy mạnh vụ sản xuất Đông - Xuân, trước mắt là chống hạn, gieo đủ mạ, làm nhiều phân bón".

Trong ba năm 1958 - 1960 các đợt phát triển Đảng "lớp 6-1" có ý nghĩa thiết thực, 837 đảng viên đã được kết nạp trong đó có nhiều đoàn viên ưu tú. Năm 1960 cũng là năm Đoàn tập trung xây dựng và củng cố các cơ sở Đoàn ở các vùng cao, vùng Công Chúa giáo.

Kết quả là đã xoá được 33 "xã trắng", chỉ còn 5 xã đang triển khai công tác tổ chức, xây dựng các chi đoàn.

Cùng với nhân dân toàn tỉnh, tuổi trẻ Yên Bái đã đóng góp công sức làm nên những thắng lợi của phát triển kinh tế - xã hội ba năm (1958 - 1960) ở địa phương. Đó là những thắng lợi to lớn và tương đối toàn diện, tạo thêm điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp cách mạng ở địa phương tiến lên những bước mạnh mẽ, vững chắc. Trước mắt là việc thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965), một dấu mốc thời gian quan trọng của tỉnh cũng như của cả nước. Đó là kế hoạch 5 năm xây dựng của đất nước ta, nhưng cũng là bắt đầu công cuộc chống Mỹ cứu nước oanh liệt.

                II. Đi đầu thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965) và vận động chuyển dân xây dựng nhà máy thuỷ điện Thác Bà.

Thắng lợi của ba năm cải tạo xã hội chủ nghĩa, bước đầu phát triển kinh tế văn hoá đã đặt nền móng cho việc tiến lên xây dựng CNXH trên miền Bắc nước ta.

Tháng 9 năm 1960, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III đã quyết định đường lối chung của Đảng trong thời kỳ quá độ đưa miền Bắc đi lên CNXH, quyết định phương hướng và nhiệm vụ của kế hoạch Nhà nước 5 năm (1961 - 1965) nhằm phấn đấu bước đầu xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH ở miền Bắc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước, thực hiện hoà bình, thống nhất nước nhà.

Đại hội còn chỉ rõ "Thanh niên ta đã nêu cao tinh thần hy sinh anh dũng trong kháng chiến và trong lao động hoà bình. Thanh niên lại là lớp người đang xây dựng CNXH... Đảng ta phải hết sức chú trọng giáo dục và rèn luyện thế hệ trẻ thành những chiến sĩ trung thành với Tổ quốc, với CNXH và CNCS, sẵn sàng mang hết nhiệt tình của tuổi trẻ tham gia xây dựng xã hội mới"(1).

             1. Thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965), tăng cường khả năng quốc phòng và an ninh trong tình hình mới.

Thực hiện sứ mệnh lịch sử của Đoàn, của tuổi trẻ cả nước trong giai đoạn mới, Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ III được triệu tập từ ngày 23 đến 25 tháng 3 năm 1961 tại Hà Nội với 677 đại biểu thay mặt hơn 1 triệu đoàn viên. Đại hội đã xác định nhiệm vụ chung của Đoàn trong giai đoạn cách mạng là: "Đoàn kết thanh niên, tổ chức mọi lực lượng, giáo dục thanh niên trong cả nước tiến lên dưới ngọn cờ của Đảng, cống hiến hết sức mình phấn đấu hoàn thành thắng lợi những nhiệm vụ lịch sử mà Đảng đề ra"(1).

Trong đó những nhiệm vụ trước mắt được nhấn mạnh. Đó là "hướng toàn thể nam nữ đoàn viên, thanh niên suy nghĩ và hành động với tư cách là người lính xung kích, cống hiến hết sức mình cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà, thể hiện trên các mặt sản xuất, công tác, học tập, bảo vệ Tổ quốc, xây dựng cuộc sống văn minh" và "Tất cả mọi hoạt động của Đoàn và thanh niên nước ta đều cần hướng vào việc thực hiện những nhiệm vụ cách mạng của Đảng và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, giải phóng miền Nam, thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà".

Đại hội rất vinh dự được Bác Hồ kính yêu, đồng chí Lê Duẩn - Bí thư Thứ nhất Ban Chấp hành TW Đảng và các đồng chí trong Bộ Chính trị đến dự.

Nói chuyện với Đại hội, Bác Hồ căn dặn: "Đoàn Thanh niên cần phải làm đầu tàu, gương mẫu trong phong trào thi đua yêu nước. Phải thực hiện khẩu hiệu: Đâu Đảng cần, thanh niên có, việc gì khó thanh niên làm"(2). Đại hội đã phát động phong trào "Xung phong tình nguyện vượt mức kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ nhất" (1961 - 1965), nhằm tổ chức giáo dục động viên tuổi trẻ miền Bắc phát huy vai trò và tác dụng của mình đi đầu thực hiện thắng lợi kế hoạch Nhà nước, cũng qua đó nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa trong mỗi đoàn viên, củng cố tổ chức Đoàn.

Chỉ trong một thời gian ngắn đã có trên 1 triệu đoàn viên, thanh niên hoạt động trên mọi mặt trận trong cả nước hưởng ứng và đăng ký tham gia phong trào này.

Sau Đại hội, để chỉ đạo phong trào đi đúng hướng, hiệu quả, thiết thực, BCH TW Đoàn (khóa III) đã có nhiều cuộc họp chuyên đề để bàn việc triển khai phong trào trên từng lĩnh vực, từng đối tượng, từng nội dung... Từ đó hình thành các nghị quyết về: Nhiệm vụ của Đoàn đối với kế hoạch 5 năm lần thứ nhất; phương hướng, nhiệm vụ của Đoàn trong công nghiệp hoá XHCN; Nhiệm vụ của Đoàn tham gia phát triển sản xuất nông nghiệp; công tác giáo dục, công tác Đoàn trong trường học; công tác thiếu niên nhi đồng...

Bước chỉ đạo mới mẻ, cụ thể đó đã được Tỉnh Đoàn Yên Bái tiếp nhận và phát huy, chỉ đạo các hoạt động tới các huyện, các xã trong toàn tỉnh, trên phương hướng chỉ đạo của 6 nhiệm vụ lớn của Đảng bộ Yên Bái do Đại hội IV của tỉnh (họp từ 20 đến 30 tháng 1 năm 1961) đề ra.

Sáu nhiệm vụ lớn cụ thể đó là:

1- Tăng cường xây dựng HTX nông nghiệp về mọi mặt, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp một cách toàn diện và vững chắc, nhất là sản xuất lương thực.

2- Coi trọng phát triển công nghiệp và thủ công nghiệp để cung cấp tư liệu sản xuất, vật phẩm tiêu dùng, vật phẩm xây dựng. Tích cực mở mang giao thông vận tải, tăng cường thương nghiệp quốc doanh và hợp tác xã.

3- Nâng cao trình độ văn hoá, trình độ giác ngộ xã hội chủ nghĩa của nhân dân, đẩy mạnh công tác phổ biến khoa học kỹ thuật, đào tạo đội ngũ cán bộ và công nhân lành nghề.

4- Trên cơ sở sản xuất phát triển, cải thiện một bước đời sống của nhân dân lao động, mọi người đều được ăn no, mặc ấm và có việc làm. Mở mang sự nghiệp phúc lợi công cộng, xây dựng đời sống mới ở nông thôn và thành thị.

5- Đề cao cảnh giác cách mạng, kiên quyết trấn áp mọi âm mưu và hành động phá hoại của bọn phản cách mạng, tăng cường củng cố hoạt động của chính quyền và các đoàn thể quần chúng.

6- Ra sức xây dựng Đảng, làm cho Đảng ngày càng mạnh để bảo đảm vai trò lãnh đạo trong giai đoạn mới.

Cũng vào tháng 1 năm 1961, Đại hội Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam tỉnh Yên Bái lần thứ III (Nhiệm kỳ 1961-1965) đã được tổ chức. Đồng chí Hoàng Kim Phấn được chính thức bầu là Bí thư Tỉnh Đoàn, đồng chí Đoàn Viết Trí được bầu là Phó Bí thư Tỉnh Đoàn.

Sau Đại hội Đảng và Đại hội Đoàn trong toàn tỉnh, Tỉnh uỷ Yên Bái mở các lớp bồi dưỡng cho 396 chủ nhiệm và phó chủ nhiệm các HTX, trong đó có nhiều thanh niên. Tuổi trẻ Yên Bái đã đi đầu trong việc thực hiện 6 nhiệm vụ mà Đại hội Đảng của tỉnh đã đề ra, tạo nên những bước chuyển biến mạnh mẽ khắp thành thị nông thôn. ở các vùng nông thôn đã bắt đầu hình thành một số vùng cây đặc sản như cây chè, cây quế, phá thế độc canh cây lương thực trước đây. Các phong trào khai hoang, trồng cây gây rừng, cải tiến kỹ thuật phát triển khắp các hợp tác xã.

Theo phản ánh của báo chí thời bấy giờ, các phong trào của Đoàn và thanh niên các cơ sở sản xuất, nhất là sản xuất nông nghiệp có nhiều thành tích đáng kể.

Báo Yên Bái số ra ngày 20 tháng 2 năm 1963 viết. "Năm 1962, phong trào làm phân bón của đoàn viên và thanh niên tỉnh ta có tiến bộ rõ rệt. Thanh niên toàn tỉnh đã làm được 1.265.231kg phân các loại. Bèo hoa dâu cũng bước đầu được chú ý. Đặc biệt ở Tân Thành đã ươm được 36 mẫu. Các xã Chính Tâm, ẩm Phước, Yên Hưng, Hưng Khánh... cũng bước đầu gây bèo dâu. Từ sau Hội nghị chuyên đề về phân bón (tháng 10 - 1962) phong trào tiếp tục có chuyển biến tốt, thiết thực phục vụ sản xuất Đông Xuân. Nhiều xã đã mở rộng vận động làm chuồng lợn hai bậc. Đoàn viên, thanh niên xã Phú Thịnh ngoài việc làm chuồng 2 bậc của gia đình còn giúp đỡ bà con trong xã.

Một số đơn vị có nhiều thành tích như Yên Hưng, Phú Thịnh, Ngọn Đồng (Hưng Khánh) đã được Tỉnh Đoàn đề nghị khen thưởng. Báo cũng nêu gương thêm nhiều điển hình trong những ngày đầu năm 1963:  "Thực hiện Tết trồng cây lần thứ ba theo sáng kiến của Hồ Chủ tịch, 8 xã vùng thượng huyện Trấn Yên đã trồng được: 18.900 cây lấy gỗ, 625 cây bóng mát, 1.610 cây ăn quả, 1.113 cây đặc sản và gieo hạt ở đồi được 465 kg hạt trẩu và cọ.

Các xã Yên Hưng, Báo Đáp, Xuân ái, Yên Hợp, Hoàng Thắng đã xây dựng vườn ươm quế, gieo ươm được 11 kg hạt, chuẩn bị giống cho vụ năm sau.

Riêng xã Yên Hưng đã xây dựng quy hoạch trồng cây, trồng được 200 cân hạt điều, 50 cân hạt cọ trên các nương sắn, nương chè. Ngày 10-2-1963 toàn xã đã trồng thêm 8.500 cây mỡ trên 3ha đất đã nhổ sắn".

Không chỉ các anh chị đóng góp vào công việc xây dựng quê nhà, các em thiếu niên nhi đồng Yên Bái cũng cố gắng "người nhỏ làm việc nhỏ" theo gương các anh chị.

Thực hiện Chỉ thị của Tỉnh uỷ, Uỷ ban Thiếu niên nhi đồng đã tổ chức Đại hội Cháu ngoan Bác Hồ toàn tỉnh trong hai ngày 13 và 14 tháng 2 năm 1963. Hội nghị đã biểu dương thành tích của các em nhỏ. Như các em Hải (6 tuổi), em Hà Thị Vy (11 tuổi) trả lại tiền, vàng nhặt được. Các em Lê Đạt Thành (14 tuổi), em Đại (11 tuổi), em Hoàng Văn Nhoong... không quản nguy hiểm cứu người qua cơn tai nạn. Em Trịnh Thị Tiến (9 tuổi) mưu trí bắt gián điệp. Em Ninh vừa học tập tốt, lao động tốt lại là cô giáo tí hon gương mẫu, đã liên tục dạy 2 năm vỡ lòng cho đàn em nhỏ. Em Nguyễn Kim Nga học sinh giỏi năm 1962 - 1963 được Bác Hồ gửi tặng phần thưởng...

"Học sinh đã bước đầu biết vui cái vui của xã viên, lo giải quyết cái lo của xã viên.

Trong những ngày nghỉ mùa, nghỉ hè, học sinh đã tham gia lao động tại hợp tác xã, giảng dạy bổ túc văn hoá, bắt sâu, làm công tác thuỷ lợi...Yêu nước, các em không quên nghĩ đến miền Nam đau thương và anh dũng.

Trong Đại hội, các em đã trồng cây thống nhất, viết thư cho các bạn ở Ninh Thuận (tỉnh kết nghĩa với Yên Bái - NBS). Các em đã bước đầu tham gia lao động kết hợp với lý luận đã học được... lao động sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội. Năng suất lúa của hợp tác xã tí hon trường Tân Thành, Yên Bình đã được 28 tạ một công mẫu" (Báo đã dẫn).

*
*   *

Sau Đại hội Đoàn lần thứ III (1-1961) và sau Đại hội Cháu ngoan Bác Hồ toàn tỉnh (2-1963) phong trào thanh thiếu nhi tỉnh Yên Bái đã có những bước chuyển biến rõ rệt.

Đặc biệt trên mặt trận sản xuất nông nghiệp, đoàn viên, thanh niên đã phát huy tác dụng tích cực đi đầu trên 3 mặt: Tham gia khai hoang tăng vụ, tăng diện tích và phục vụ nhiệm vụ chuyển dân vùng hồ Thác Bà, làm thuỷ lợi và làm phân bón....Cơ sở Đoàn đã xây dựng được ở tất cả các xã, toàn tỉnh đã có 644 chi đoàn bao gồm trên 12.000 đoàn viên, tăng gấp 2 lần so với năm 1960. Số đoàn viên ưu tú được Đoàn giới thiệu kết nạp vào Đảng đã lên tới 600 đồng chí".

Nhiều phong trào đã được thanh niên phát động và lôi cuốn mọi người cùng thực hiện: "Mỗi người làm việc bằng hai", "Làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm", "Tay cày tay súng", "Tuần cao điểm 20 tháng 7"... Đặc biệt là phong trào "Ba sẵn sàng" - một phong trào sâu rộng, thu hút hàng triệu tuổi trẻ trong cả nước, bắt đầu hình thành từ ngày 9 tháng 8 năm 1964 tại Hà Nội. 26 vạn lượt thanh niên, sinh viên học sinh Thủ đô đã xuống đường biểu tình, tuần hành biểu thị quyết tâm chống Mỹ cứu nước với tinh thần "Ba sẵn sàng".

- Sẵn sàng chiến đấu.

- Sẵn sàng nhập ngũ.

- Sẵn sàng đi bất cứ nơi nào Tổ quốc cần.

Tại Yên Bái trong ba ngày 14, 15, 16 tháng 5 năm 1964 đã tổ chức Đại hội "Những người xuất sắc trong phong trào tình nguyện vượt mức kế hoạch 5 năm lần thứ nhất".

Gần 300 nam nữ thanh niên tiên tiến, tiêu biểu cho trên 10 ngàn đoàn viên, thanh niên trong phong trào xung phong tình nguyện toàn tỉnh đã về dự Đại hội. Đại hội vinh dự được đón tiếp Bí thư Tỉnh uỷ Nguyễn Ngọc Cừ, đồng chí Hồ Thiện Ngôn - đại biểu Hội đồng hương của tỉnh kết nghĩa Ninh Thuận...

Đồng chí Bí thư Tỉnh Đoàn Hoàng Kim Phấn đã đọc báo cáo trước Đại hội nêu rõ phong trào đã thu hút trên 10 ngàn cán bộ, đoàn viên, thanh niên làm lực lượng xung kích đi đầu trên mọi trận tuyến cách mạng. Đại hội cũng được nghe 13 bản báo cáo điển hình của các đơn vị và cá nhân...."Thực hiện lời dạy của Bác, thực hiện Chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đoàn, của Tỉnh uỷ, Ban Thường vụ Tỉnh Đoàn đã chính thức phát động cao trào thi đua "Mỗi người làm việc bằng hai, ra sức xây dựng và bảo vệ miền Bắc, tích cực ủng hộ cách mạng giải phóng miền Nam, giành danh hiệu thanh niên Điện Biên - ấp Bắc". Đại hội đã thông qua lời kêu gọi toàn thể cán bộ, đoàn viên thanh niên hãy tích cực đẩy mạnh phong trào xung phong tình nguyện, lôi cuốn toàn thể lớp người trẻ tuổi, mọi tầng lớp nhân dân hăng hái thi đua mỗi người làm việc bằng hai để hoàn thành thật tốt kế hoạch 5 năm lần thứ nhất của Nhà nước. Những việc cần làm trước mắt là: tổ chức lao động hợp lý, cải tiến và chuẩn bị đầy đủ các công cụ, cải tiến kỹ thuật, tranh thủ làm thêm giờ, thêm buổi để tận thu vụ chiêm và làm mùa kịp thời vụ.

Đại hội gửi quyết tâm thư lên Hồ Chủ tịch, Trung ương Đoàn, Tỉnh uỷ và thông qua thư gửi thanh niên tỉnh Ninh Thuận kết nghĩa. Đại hội đã trao tặng 27 giấy khen của Trung ương Đoàn và Uỷ ban Hành chính tỉnh cho các cấp bộ Đoàn trong tỉnh, Ban Thường vụ tỉnh Đoàn tặng 15 lá cờ cho 10 đơn vị có thành tích khá nhất trong phong trào xung phong tình nguyện và 5 đơn vị có thành tích khai hoang khá nhất. Ngoài ra Ban Thường vụ Tỉnh Đoàn còn khen thưởng 186 cá nhân, đơn vị xuất sắc của phong trào" (Báo Yên Bái 20/5/1964).

Đặc biệt trong năm 1964, Đoàn đã chú trọng việc động viên tuổi trẻ trong sản xuất công nghiệp, không chỉ tăng số lượng sản phẩm mà còn chú ý khâu chất lượng sản phẩm và nâng cao tay nghề cho các bạn trẻ.

Tuổi trẻ trên đồng ruộng không chỉ cải tiến công cụ mà còn cùng bà con thực hiện tốt việc cải tiến quản lý HTX, tăng hiệu quả sản xuất. Bắt đầu từ "thí điểm ở hợp tác xã Cận Còng (Hưng Khánh) và Yên Hưng huyện Trấn Yên. Ngày 3-5-64 gần 130 đại biểu của hơn 40 hợp tác xã các huyện, thị xã, các cán bộ cải tiến và các ngành xung quanh tỉnh đã về họp tổng kết 2 thí điểm trên" cuộc họp đã chỉ rõ những kết quả cụ thể ở 2 hợp tác xã "Lấy thâm canh tăng năng suất làm chính đồng thời tích cực khai hoang, do đó đã đưa diện tích gieo cấy bình quân đầu người từ 8 sào 12 lên 9 sào 13. Năng suất từ 15 tạ lên 18 tạ một hécta. Hệ số sử dụng đất từ 1,62 lần nâng lên 1,77 lần. Sản lượng về lúa của hợp tác xã từ 100 lên 115%, màu từ 100 lên 180% (khoai lang) 109% (sắn)..." (Báo Yên Bái 10/5/64). Từ kết quả cụ thể ở hai HTX thí điểm trên, tuổi trẻ tất cả các HTX nông nghiệp đã cùng cha anh mình tạo dựng nên những thắng lợi mới trong công việc. Khi đó lao động trên đồng ruộng đầy sôi động, háo hức. Các vấn đề kỹ thuật trong nông nghiệp được tuổi trẻ quan tâm áp dụng ngày càng nhiều: Cải tiến công cụ cày bừa, chọn giống lúa tốt, ngâm giống 3 sôi 2 lạnh, hồ phân rễ mạ, ruộng mạ chuẩn bị phân gio đầy đủ... Hàng trăm đội thanh niên xung kích với hàng vạn đoàn viên, thanh niên tham gia đã có tác dụng hoàn thành và thúc đẩy các kế hoạch ở địa phương. Khai hoang là một mũi tiến công mạnh mẽ mà sức mạnh tuổi trẻ đã góp phần rất quan trọng. Trong hai năm 1963, 1964 diện tích khai hoang đã tới trên hai ngàn hécta, năm 1965, diện tích đó còn tăng hơn nhiều để bù vào những diện tích trồng trọt bị mất đi do yêu cầu xây dựng thuỷ điện Thác Bà. Nhiệm vụ nặng nề đó đã được Tỉnh uỷ và Uỷ ban Hành chính tỉnh giao cho Đoàn Thanh niên với chỉ tiêu cụ thể: Trong khoảng 3 tháng, từ giữa tháng 3 đến hết tháng 6 năm 1965 phải hoàn thành khai hoang được từ 800 đến 1000 hécta. (Nghĩa là bằng gần kết quả của một năm trước đó).

Hội nghị Tỉnh Đoàn bàn bạc về nhiệm vụ trên đã nhất trí "Thanh niên phải dốc toàn lực, phải tập trung từ 3.000 đến 4.000 đoàn viên, thanh niên đi khai hoang tại chỗ và khai hoang tập trung. Phải phấn đấu đạt bình quân mỗi người khai hoang được 3 sào một tháng. Cụ thể mỗi xã vùng hồ phải có từ 30 đến 40 thanh niên trong các đội khai hoang của xã và hợp tác xã. Mỗi xã ngoài vùng hồ phải có từ 20 đến 30 đoàn viên, thanh niên đi khai hoang trong thời gian 3 tháng". Đại diện các Đoàn Thanh niên Tân Thành, Chính Tâm, Minh Tiến, Tuy Lộc, Yên Thắng, Xuân Lan, thị xã đã báo cáo với Hội nghị kinh nghiệm khai hoang của đơn vị mình. "Tại Hội nghị, Tỉnh Đoàn Thanh niên Yên Bái đã chính thức phát động phong trào "Thanh niên tiến quân vào mặt trận khai hoang quyết lập công chúc thọ Bác 75 tuổi, giành danh hiệu Nguyễn Văn Trỗi". "Ngay trong Hội nghị nhiều chi đoàn đã nhận vượt mức chỉ tiêu khai hoang của Tỉnh Đoàn giao cho". "Ngày 13-3-1965 đội Thanh niên xung kích khai hoang đầu tiên của Tỉnh Đoàn Thanh niên đã lên đường nhận nhiệm vụ". (Báo Yên Bái 20/3/1965).

Nhiệm vụ khai hoang kể trên gắn rất liền với việc chuyển dân vùng hồ, chuẩn bị cho công trình lớn xây dựng nhà máy thuỷ điện Thác Bà.

*
*   *

Ngày 24 tháng 12 năm 1962, tỉnh Nghĩa Lộ được thành lập bao gồm các huyện Văn Chấn, Than Uyên, Phù Yên và thị xã Nghĩa Lộ (Trạm Tấu, Mù Cang Chải, Bắc Yên).

Hướng về miền Nam thân yêu, các tỉnh Yên Bái, Nghĩa Lộ tổ chức kết nghĩa với các tỉnh Ninh Thuận và Gia Lai.

Thời gian này đế quốc Mỹ đẩy mạnh "chiến lược chiến tranh đặc biệt" ở miền Nam và tăng cường hoạt động biệt kích gián điệp phá hoại miền Bắc. Nhận định địa bàn tỉnh là nơi địch có khả năng sẽ đưa biệt kích vào do thám phá hoại, các cấp uỷ và chính quyền địa phương đã thường xuyên giáo dục toàn dân đề cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu nhất là tuổi trẻ tăng cường các phương án chiến đấu, tổ chức thao luyện, tập dượt và quản lý chặt chẽ các địa bàn xung yếu. Lực lượng an ninh của tỉnh Yên Bái đã khám phá âm mưu gây bạo loạn ở một số xã thuộc Yên Bình, kịp thời bắt giữ những kẻ chủ mưu, xét xử công khai trước quần chúng, được nhân dân đồng tình ủng hộ và tin tưởng.

Ngày 27 tháng 5 năm 196,1 toán biệt kích đầu tiên nhảy dù xuống điểm cao 828 thuộc xã Phiêng Ban (Nghĩa Lộ) đã bị lực lượng vũ trang tóm gọn. Do chủ trương đúng, đánh giá tình hình chính xác, cảnh giác cao và phối hợp tốt các lực lượng, trong đó lực lượng trẻ trong quân đội, công an, dân quân cùng với nhân dân đã lần lượt bắt được toàn bộ các toán biệt kích nhảy dù xuống các xã Phong Dụ, Kim Sơn, Cam Cọn... (Văn Bàn), Đại Sơn (Văn Yên). Khoảng 22 giờ, ngày 4 tháng 7 năm 1963 một máy bay D64 phải đền tội ở xã Nậm Tha (Văn Bàn), ta thu nhiều truyền đơn, điện đài, quân trang, quân dụng.

Đây là cuộc phối hợp ăn ý của dân quân du kích, mà hầu hết là thanh niên, ở các xã Nậm Tha, Chiềng Ken, Khánh Yên Hạ, Khánh Yên Thượng, Võ Lao, Dương Quỳ, Hưng Khánh, tự vệ thị xã Yên Bái và lực lượng công an vũ trang tỉnh, tổng cộng 285 người tham gia tiêu diệt và bắt sống toán biệt kích.

Đặc biệt là vụ bắt toán biệt kích nhảy dù xuống thôn Đồng Song, xã Kiên Thành (Trấn Yên). Ta tiến hành xét xử công khai bọn này cùng đầy đủ những tang chứng đã vạch trần âm mưu thâm độc của Mỹ - Nguỵ, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, đồng thời cũng củng cố thêm niềm tin vào sức mạnh của toàn dân tỉnh nhà.

Vụ này xảy ra như sau: 21 giờ 30 ngày 17 tháng 6 năm 1964, một máy bay C123 của địch từ phía Tây Bắc qua Hưng Khánh vào Kiên Thành từ phía Nam, hạ độ cao thả 3 tốp dù (Tốp 1: 5 dù, tốp 2: 4 dù, tốp 3: 3 dù).

Ta đã có chuẩn bị trước. Chuẩn bị từ ý thức và có chỉ đạo cụ thể: Các xã phải chủ động trong mọi tình huống, địch đến xóm nào, bản nào, xóm bản đó chủ động đánh và cử người đi báo với xã, với huyện bằng liên lạc chạy chân. Chuẩn bị bằng tổ chức: Xã có Ban Chỉ đạo phòng chống gián điệp, biệt kích do đồng chí Bí thư kiêm Chủ tịch làm trưởng ban và 4 uỷ viên phụ trách các mặt chỉ huy chiến đấu, bảo đảm hậu cần, duy trì sản xuất và trật tự trị an.

Chúng ta đều biết bọn biệt kích được huấn luyện chu đáo, trang bị vũ khí tận răng, lại rất ngoan cố, xảo quyệt mà địa hình lại hiểm trở vì vậy cuộc chiến diễn ra dai dẳng và ác liệt suốt 80 tiếng đồng hồ. Đến 6 giờ ngày 21 tháng 6 năm 1964, tên biệt kích cuối cùng đã bị bắt. Hắn đói lả và thú nhận là nhân viên phá hoại trong toán biệt kích. Ta tiêu diệt 1 tên, bắt sống 6 tên, thu toàn bộ trang bị kỹ thuật, vũ khí, dụng cụ phá hoại của địch. Ta hy sinh hai đồng chí dân quân, bị thương một.

             2. Cuộc vận động chuyển dân xây dựng nhà máy thuỷ điện Thác Bà.

Một công tác khác rất quan trọng mà tuổi trẻ và nhân dân Yên Bái - Nghĩa Lộ phải thực hiện trong thời gian này là việc chuyển dân khỏi vùng lòng hồ sông Đà.

Tháng 6 năm 1962, Hội nghị lần thứ VII, Ban Chấp hành TW Đảng đã họp bàn về việc xây dựng và phát triển công nghiệp. Đảng xác định điện phải đi trước một bước và chú trọng xây dựng thuỷ điện. Sau đấy Thác Bà đã được lựa chọn là nơi có đủ điều kiện thích hợp để xây dựng nhà máy thuỷ điện. Đây là một vinh dự lớn nhưng cũng là một thử thách không nhỏ với tỉnh Yên Bái, với tuổi trẻ và toàn dân Yên Bái, nhất là với những người dân lòng hồ, phải chuẩn bị chuyển đến nơi ở mới - mà tập trung là ở hai huyện Yên Bình và Lục Yên - một vùng đất vốn trù phú, màu mỡ.

Ngày 2 tháng 3 năm 1961, Ban Chuyển dân của tỉnh và Ban Chuyển dân của huyện Yên Bình, huyện Lục Yên cùng các ban ngành như giao thông, thuỷ lợi, lâm nghiệp, lương thực, y tế, văn hoá... đã có kế hoạch cụ thể chu đáo để phối hợp phục vụ công tác di chuyển.

Rõ ràng lợi ích lâu dài là lớn lao có tính rộng lớn, nhưng với người dân phải di chuyển là một thử thách khó khăn ngay trước mặt: Đang ăn ở yên lành bỗng nhiên phải thay đổi quê quán gốc gác, mồ mả tổ tiên, công ăn việc làm, đường làng ngõ xóm, đồng dưới vườn trên... Tất cả đều bỏ lại để đến một nơi chưa biết chắc sẽ thế nào. Nhất là đối với huyện Yên Bình, nơi có nhiều giáo dân sinh sống. Một số phần tử xấu được dịp tung tin, đây là thủ đoạn dồn dân để xoá bỏ đạo. Không ít người cao tuổi băn khoăn, nghi ngờ, mà trước hết là ngại sự thay đổi. Ngược lại, tuổi trẻ được học, được đọc, được phổ biến nhiều hơn về công trình thuỷ điện lớn đầu tiên của miền Bắc, nên rất nhiều người hăng hái cùng các bộ các cấp của Đảng, của chính quyền, đi vận động nhân dân. Việc nhận diện tích khai hoang rất lớn của Đoàn Thanh niên cũng là một bước chuẩn bị cụ thể để đón đồng bào về nơi ở mới.

Cuối năm 1962, đầu năm 1963 các xã Đông Lý, Tân Thượng (Yên Bình) đã thành lập đội khai hoang chuyên nghiệp gồm 676 lao động trẻ, khoẻ lên khai hoang ở Bảo ái, Tân Nguyên, ẩm Phước. Các đội đã khai hoang được 830 mẫu. Khai hoang đến đâu, tổ chức chuyển dân đến đó.

Công tác chuyển dân được chia thành nhiều đợt. Đợt một, hai xã Chính Tâm và Tân Thành được chọn làm thí điểm từ cuối 1962 và đầu 1963.

Các tổ chức cơ sở Đảng ở các địa phương vùng lòng hồ đã được chỉ đạo hướng dẫn để tuyên truyền rõ chủ trương của Nhà nước, đưa ra và phê phán những phần tử xấu đã phao tin đồn nhảm. Tỉnh uỷ cũng ra lời kêu gọi nhân dân các dân tộc trong tỉnh kết nghĩa với nhân dân vùng hồ Thác Bà, giữa nhân dân nơi đi và nơi đến, để tạo điều kiện thuận lợi nhất giúp đỡ đồng bào di chuyển.

Với tinh thần tự lực cánh sinh, với động lực là tuổi trẻ ở thôn ở xã, là mỗi gia đình trong diện di chuyển, cộng với sự giúp đỡ vô tư, chí tình chí nghĩa của tuổi trẻ và nhân dân các dân tộc ở nơi đón nhận, chỉ trong một thời gian ngắn đã dựng được 71 ngôi nhà trên quê mới, cấy trồng được 343 mẫu lúa, 272 mẫu ngô, trên 541.400 khóm sắn, phát được 307 mẫu nương. Các xã Chính Tâm, Tân Thành, Tích Chung đã thu hoạch lương thực ở cả 2 nơi đạt 50 tấn. Chăn nuôi tập thể được 135 con lợn bột, 8 lợn sinh sản và trên 600 gia cầm. Qua đợt đầu di chuyển, đã xuất hiện nhiều nhân tố điển hình, nhất là trong lực lượng thanh niên. Các tổ chức Đoàn kết nạp thêm được 18 đoàn viên, các tổ chức Đảng kết nạp được 13 đảng viên - trong đó có nhiều bạn trẻ.

Khai hoang - chuyển dân, đấy là hai nhiệm vụ vừa giúp đỡ vừa thúc đẩy lẫn nhau. Làm sao cho mỗi khẩu đến quê mới phải có ít nhất 3 sào đất. Đây là nhiệm vụ mà Đảng bộ tỉnh Yên Bái đã giao cho Đoàn Thanh niên tỉnh và Đoàn đã thực hiện bằng cách tổ chức những đội thanh niên tình nguyện khai hoang tập trung. Suốt các năm 1962 đến 1965 phong trào khai hoang do Đoàn Thanh niên và tuổi trẻ Yên Bái đảm đương đã đạt nhiều kết quả.

Cùng với khai hoang là việc chú trọng mở các đường giao thông. Đó là các tuyến đường: Vĩnh Kiên, nối tới Vũ Linh; Tân Nguyên đi Vinh An; Minh Tiến đi Cao Khánh. Một số đường dành cho xe thô sơ cũng được mở tạm thời để giải phóng đôi vai người lao động trong quá trình di chuyển. Bước sang năm 1964, phong trào chuyển dân được xúc tiến mạnh hơn; 128 đội khai hoang được thành lập với gần 2500 đội viên, trong đó có 72 đội chuyên nghiệp với trên 1.200 người. Vừa khai hoang vừa làm thuỷ lợi, cải tạo đất, gần 3.000 mẫu đất hoang đã được biến thành ruộng nước có thể cấy 2 vụ.

Vụ đông xuân năm 1964 đã cấy được 1.790 mẫu lúa, gieo trồng được gần 800 mẫu hoa màu. Đợt chuyển dân lần II đã chuyển được 1.421 gia đình. Xây dựng 36 sân kho, sân phơi, dựng 2 lò vôi, lò gạch, chuyển và xây dựng các trường cấp I, cấp II, trạm xá, nhà thờ. Ngoài ra, còn di chuyển hàng trăm mộ liệt sĩ và di hài cốt của thân nhân những người chuyển về làng mới.

Chiều 19/8/1964, Bộ Kiến trúc và Bộ Thuỷ lợi đã tổ chức lễ chính thức khởi công công trình thuỷ điện Thác Bà.

Từ tháng 7 năm 1965, đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, khu vực này là trọng điểm đánh phá của chúng. Cuộc chuyển dân còn tiếp tục kéo dài lẻ tẻ sang đến đầu năm 1967.

Cuộc vận đông chuyển dân diễn ra trong điều kiện hết sức khó khăn vì đó là vùng nhiều dân tộc cư trú, tôn giáo phức tạp, lại có thời kỳ phải thực hiện trong chiến tranh phá hoại ác liệt của địch. Vì vậy thắng lợi của nó đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc về sự lãnh đạo và thực hiện của Đảng bộ tỉnh, trong đó lực lượng tuổi trẻ đã thực sự là đội quân xung kích tới những chỗ khó khăn nhất. 8.913 hộ với 53.500 người cùng với toàn thể các công trình công cộng và dân sinh được chuyển đến vùng quê mới đã được chuẩn bị khá đầy đủ điều kiện để sinh sống và sản xuất thắng lợi.

Cuộc vận động chuyển dân thắng lợi có ý nghĩa chính trị, kinh tế, quốc phòng to lớn. Đây là công trình thuỷ điện đầu tiên của miền Bắc nước ta. Thác Bà hung dữ trên sông Chảy sẽ bị chinh phục bởi bàn tay khối óc của con người.

Sau này, đến ngày 5 tháng 10 năm 1971, tổ máy số 1 nhà máy thuỷ điện Thác Bà đã chính thức phát dòng điện hoà vào lưới điện quốc gia, phục vụ cho kinh tế, quốc phòng, góp phần vào sự nghiệp xây dựng CNXH và đấu tranh thống nhất nước nhà.

*
*   *

Đánh giá những thắng lợi chung của thời kỳ thực hiện nhiệm vụ kế hoạch 5 năm lần thứ nhất và cũng là thắng lợi của cả thời kỳ hoà bình xây dựng ở miền Bắc, Bác Hồ đã nhấn mạnh "Mười một năm qua, miền Bắc ta xây dựng không ngừng, ngày càng đổi mới. Chúng ta đã xoá bỏ chế độ người bóc lột người, nhân dân lao động hoàn toàn làm chủ cuộc đời của mình, cùng nhau xây dựng chủ nghĩa xã hội và đã thu được nhiều thành tích rực rỡ. Trong sự nghiệp vĩ đại ấy, thanh niên ta ở miền Bắc được sự giáo dục của Đảng và sự dìu dắt của Đoàn đã tỏ ra rất xứng đáng là thế hệ của Cách mạng Tháng Tám vẻ vang. Đại đa số các cháu đều hăng hái thi đua trên mọi mặt trận: Nông nghiệp, công nghiệp, quốc phòng, khoa học, kỹ thuật, giáo dục, văn hoá, y tế v.v..." (Thư gửi thanh niên nhân dịp kỷ niệm lần thứ 20 Cách mạng Tháng Tám - Hồ Chí Minh về giáo dục thanh niên - NXB Thanh Niên, Hà Nội 1980, trang 374).

Đoàn Thanh niên và tuổi trẻ Yên Bái tự hào đã cố gắng chiến đấu cùng đồng bào các dân tộc trong tỉnh, xứng đáng với lời nhận xét của Bác trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước, nhất là thực hiện kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ nhất. Những thắng lợi về đoàn kết dân tộc, kinh tế, an ninh, văn hoá, y tế... đã làm thay đổi bộ mặt tỉnh Yên Bái, tạo thêm sức mạnh chuẩn bị cho công cuộc xây dựng trong tình hình vừa phải đánh trả cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ xâm lược và chi viện mạnh mẽ cho Ninh Thuận, Gia Lai kết nghĩa và cho cả miền Nam đi trước về sau.

Cùng với những thành tích ấy là sự trưởng thành của lực lượng thanh niên với lập trường vững vàng kiên định hơn, với kiến thức được mở rộng hơn, với tổ chức Đoàn của mình ngày càng rộng lớn, hiệu quả hơn.

"Hội đồng Chính phủ đã ra quyết định tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba cho cán bộ đoàn viên và thanh niên các dân tộc trong tỉnh đã góp phần tích cực cùng với toàn Đảng toàn dân phấn đấu hoàn thành tốt kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ nhất" (Báo Yên Bái 25/3/1966).

Trong báo cáo tổng kết công tác 1965 và kế hoạch 5 năm lần thứ nhất của Tỉnh uỷ Yên Bái có ghi nhiều điểm về thanh niên. Ví dụ một số thông tin sau:

- Phong trào Ba sẵn sàng đã thu hút 92% đoàn viên và gần 50% thanh niên tham gia.

- Đợt giáo dục đầu năm 1965 và đợt sinh hoạt chủ đề "Nguyễn Văn Trỗi" và tổ chức đọc sách "Sống như anh" đã nâng cao giác ngộ chính trị trong thanh niên, góp phần tích cực giáo dục đạo đức và tác phong thích hợp với thời chiến.

- Trong nông nghiệp, lực lượng thanh niên đã đi đầu trong những công việc lớn, và khâu trọng yếu như: Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, làm thuỷ lợi, phân bón, khai hoang, giúp chuyển dân vùng hồ và ổn định nơi ở mới.

- Trong công nghiệp, thanh niên giữ vai trò nổi bật trong phong trào phát huy sáng kiến, tăng năng suất lao động.

- Thanh niên nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, sẵn sàng hi sinh và quyết tâm bảo vệ Tổ quốc, dũng cảm, gan dạ, củng cố xây dựng lực lượng hậu bị.

- Tổ chức Đoàn được củng cố thêm một bước, trong việc xây dựng Chi đoàn, Phân đoàn 4 tốt. Số chi đoàn khá tăng từ 44% lên 48%, trung bình từ 28% lên 43%, loại kém giảm từ 22% xuống còn 7,2% (so sánh cuối năm 1965 với cuối năm 1964).

- Thu hút 76% số thiếu niên tham gia các hoạt động Đội do Đoàn tổ chức. Cuộc vận động "Toàn Đoàn làm công tác thiếu nhi" có nhiều tiến bộ, sự phối hợp hoạt động của các đoàn thể và các ngành được chặt chẽ hơn trong việc giáo dục và chăm sóc thiếu niên nhi đồng.

Khí thế của tuổi trẻ Yên Bái được thể hiện rất sôi nổi trong sản xuất và sẵn sàng chiến đấu chống chiến tranh phá hoại và hết lòng chi viện miền Nam ruột thịt. Chúng ta cùng trở lại một chút không khí đó với các bạn trẻ trên công trường thuỷ điện Thác Bà vào sáng chủ nhật ngày 7 tháng 3 năm 1965: "Biểu dương khí thế "Ba sẵn sàng", sáng chủ nhật 7-3-1965 đã có 1.800 đoàn viên, thanh niên tập hợp thành đội ngũ và chạy vũ trang trên đoạn đường dài 10 cây số. Nhiều chi đoàn vận động 100% thanh niên tham gia luyện tập quân sự. Các tổ săn máy bay được thành lập, các hầm hố tránh bom, bắn tàu bay được đào khắp công trường. Đặc biệt 250 thanh niên đã viết đơn đề nghị lên Hội đồng Quốc phòng xin được nhập ngũ để chiến đấu". Và đây là không khí chung trên công trường vào đầu tháng 3 năm ấy: "Chỉ trong một tuần đầu tháng 3-65 đã có 2600 đoàn viên, thanh niên tình nguyện ghi tên "ba sẵn sàng". Nhiều anh em ngoài tuổi Đoàn cũng tình nguyện ghi tên". "...Khí thế lao động khẩn trương thi đua tăng năng suất cũng sôi nổi khắp công trường nhất là đối với đoàn viên và anh chị em thanh niên. Tổ rửa nền nhà máy chính, tổ rửa nền móng đều đạt kế hoạch từ 180% đến 181%. Tổ hàn trong khu nhà máy bê tông, tổ cắt uốn sắt đều tăng năng suất 15% bình quân một công. Đội khoan ép trong tổ 1 gồm toàn thanh niên điều khiển máy khoan đã thực hiện vượt mức 20% kế hoạch". (Báo Yên Bái - 20-3-1965).

Cùng với nhân dân các dân tộc toàn tỉnh, tuổi trẻ Yên Bái đã sẵn sàng vừa xây dựng, vừa sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi.

                 III. Cùng nhân dân toàn tỉnh chuyển hoạt động kinh tế sang thời chiến, góp phần đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ (1965 - 1968).

Thất bại nặng nề ở miền Nam, đế quốc Mỹ dựng lên "sự kiện vịnh Bắc Bộ" ngày 5 tháng 8 năm 1964, tiến hành chiến tranh phá hoại ra miền Bắc với qui mô ngày càng mở rộng và tính chất ngày càng ác liệt, dã man, trắng trợn. Nhận rõ âm mưu kẻ thù, BCH TW Đảng đã tiến hành hai Hội nghị TW 11 và 12 vào tháng 3 và tháng 12 năm 1965, đề ra Nghị quyết về chuyển hướng công tác mọi mặt ở miền Bắc, nhằm đẩy mạnh sản xuất, chiến đấu, kiên quyết đánh bại bước leo thang chiến tranh của Mỹ, tăng cường chi viện cho cách mạng miền Nam.

Trên toàn tỉnh Yên Bái đã được "thời chiến hoá" mạnh mẽ. Cùng lúc này, đồng chí Bí thư Tỉnh Đoàn Hoàng Kim Phấn chuyển công tác, đồng chí Đoàn Viết Trí được cử làm Q. Bí thư Tỉnh Đoàn. Lại là sự chỉ đạo nhanh, cụ thể của Tỉnh uỷ và sự đi đầu thực hiện của lớp trẻ khắp xóm làng, phường phố, khắp đồng bằng và vùng núi cao... Các cơ sở sản xuất, cơ quan, trường học, bệnh viện, cùng nhân dân ở các khu trọng điểm - nhất là người cao tuổi và trẻ em đều được sơ tán. Gần 4.000 hầm hào trú ẩn được đào đắp ở những nơi công cộng, ven đường giao thông, trong bệnh viện, trường học, trong từng nhà dân. Hàng chục vạn công lao động, trong đó chủ yếu là công sức của lớp thanh niên trẻ khoẻ, được huy động vào xây dựng các trận địa, kéo pháo, làm đường cơ động, nguỵ trang trận địa và những mục tiêu quân sự, kinh tế khác. Sân bay Yên Bái cũng được gấp rút xây dựng. Cơ quan quân sự Yên Bái - Nghĩa Lộ liên tục tổ chức huấn luyện kỹ thuật bắn máy bay bằng súng trường, lập 336 đài quan sát báo động máy bay, thành lập các đơn vị trực chiến - gồm các chiến sĩ trẻ được chọn lựa - thay nhau duy trì trực chiến 24/24 giờ. Nhiều trận địa pháo 12 ly 7 của dân quân tự vệ cùng các đơn vị pháo cao xạ của bộ đội chủ lực được bố trí bảo vệ những mục tiêu quan trọng (Như công trường xây dựng nhà máy thuỷ điện Thác Bà, sân bay Yên Bái, ven thị xã, đường sắt, nhà ga...).

Đâu đâu cũng thấy tuổi trẻ đi đầu với khí thế hừng hực Ba sẵn sàng:

1- Sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu dũng cảm và sẵn sàng nhập ngũ (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ).

2- Sẵn sàng khắc phục mọi khó khăn, đẩy mạnh sản xuất công tác và học tập trong bất kì tình huống nào.

3- Sẵn sàng đi bất cứ đâu, làm bất cứ việc gì khi Tổ quốc cần.

Đây là nội dung Ba sẵn sàng đã được bổ sung tại Hội nghị BCH TW Đoàn lần thứ 9 và Hội nghị TW Hội Liên hiệp Thanh niên, cùng họp trong tháng 5 năm 1965.

Từ đây, cùng với tuổi trẻ cả nước, cùng với phong trào "Năm xung phong" của tuổi trẻ miền Nam thành đồng, phong trào Ba sẵn sàng đã được tuổi trẻ Yên Bái thổi bùng thành ngọn lửa cách mạng đốt cháy mọi khó khăn trở ngại, mọi tiêu cực và mọi âm mưu hành động tàn bạo của kẻ thù.

Đế quốc Mỹ bắt đầu đánh phá Nghĩa Lộ ngày 15 tháng 6 và Yên Bái ngày 9 tháng  7 năm 1965. Chúng điên cuồng oanh kích các mục tiêu như trung tâm thị xã Yên Bái, Nghĩa Lộ, trường học bệnh viện, nhà ga, đường sắt, cầu phà và các công sở. Thị xã Yên Bái bị đánh đi đánh lại nhiều lần, có lần chúng oanh tạc liên tục trong 2 giờ, gây nhiều thiệt hại cho sinh mạng dân thường và của cải vật chất.

Có ngày chúng kéo tới đánh phá 6 lần, có lần tới 46 máy bay các loại. Với khí thế sục sôi căm thù giặc Mỹ, với tinh thần của Nguyễn Viết Xuân - nhằm thẳng quân thù mà bắn - tuổi trẻ Yên Bái - Nghĩa Lộ đã giáng trả địch những đòn đích đáng.

Ngày 10 tháng 7 năm 1965, lực lượng phòng không thị xã Yên Bái đã bắn cháy hai chiếc F.105, những chiếc máy bay Mỹ đầu tiên bị hạ trong tỉnh đã động viên cổ vũ thêm tinh thần chiến đấu của bộ đội, dân quân tự vệ, công an... Hàng loạt trận địa nối tiếp nhau lập công xuất sắc. Bộ đội thắng giặc đã đành, dân quân tự vệ cũng bắn rơi máy bay địch. Dân quân tự vệ các xã Tân Phong, Quang Huy, Kim Bon (Phù Yên, Nghĩa Lộ), Mậu Đông, Lang Thíp, Xuân Tầm, Nậm Tha (Yên Bái), tự vệ nhà máy Z1... bắn rơi nhiều máy bay F101, F105, AD6 của Mỹ. Trong 8 năm chống chiến tranh phá hoại với rất nhiều trận chiến đấu ác liệt, trận hiệp đồng đánh máy bay chiều 10 tháng 7 năm 1965 là một trong những trận đánh tiêu biểu xuất sắc của quân và dân thị xã Yên Bái trong đó có lực lượng nòng cốt là tuổi trẻ trong các lực lượng vũ trang.

Hôm trước, 9 tháng 7, trận đánh phá đầu tiên của giặc Mỹ xuống thị xã, tuy ta chưa bắn rơi máy bay giặc, nhưng đã kịp thời rút ra nhiều kinh nghiệm cụ thể. Ngay tối hôm đó Thường trực Tỉnh uỷ, Uỷ ban Hành chính tỉnh và Ban Chỉ huy Tỉnh Đội đã tổ chức rút kinh nghiệm, và đề ra các biện pháp tăng cường hiệu quả chiến đấu, bảo vệ thị xã, nhất là bố trí các trận địa và tăng cường xây dựng các trận địa mới. Tất cả các công việc phải hoàn thành trước 5 giờ ngày 10 tháng 7 năm 1965. Đúng như dự đoán của ta (Địch có thể đánh vào thị xã từ 10 đến 16 giờ là thời điểm chúng có thể lợi dụng ánh mặt trời để luồn lách đến từ các khe núi) 11 giờ 15 phút ngày 10 tháng 7, tiếng kẻng báo động vang lên, ngay sau đó là ào ào tiếng máy bay địch lao tới: 12 chiếc, tốp đi đầu 3 chiếc, những tốp sau cũng lần lượt lao vào.

Đã được chuẩn bị kỹ càng, lực lượng phòng không thị xã đã tung lên một lưới lửa dầy đặc bủa vây máy bay giặc, làm cho đội hình chúng tan tác, thả bom không đúng ý định. Sau vài phút súng nổ, một F105 ở tốp 2 bốc cháy.

Tiếng reo máy bay cháy càng làm cho khí thế chiến đấu hừng hực. Trận địa đại đội 1 bị đánh phá dữ dội, vừa đánh trả, đại đội vừa cơ động từng khẩu đội rời sang trận địa phụ.

Ở trận địa đại đội 2, bộ đội ta chiến đấu dũng cảm. Bom vùi lấp cả người cả súng. Được đội cứu sập đào bới kéo súng, đỡ người lên, các anh em lại tiếp tục chiến đấu.

Cả bầu trời thị xã đầy khói bom đạn và tiếng rú rít của máy bay, của các loại súng đạn. Mặt đất cũng đầy khói lửa và tiếng chân hối hả của các lực lượng cứu thương, tải đạn, thông tin, khắc phục hậu quả. Sau 1 giờ 30 phút chiến đấu, quân dân thị xã Yên Bái, trong đó nòng cốt là các đơn vị bộ đội toàn những chiến sĩ trẻ trung đã chiến thắng trận đầu giòn giã: Bắn rơi tại chỗ hai F105, bắt sống giặc lái. Cùng với lực lượng vũ trang còn là sự hỗ trợ của trên 3000 dân công, phần lớn cũng là các bạn trẻ trai và gái, xây dựng trận địa và cơ động lực lượng khẩn trương, an toàn.

Trận hiệp đồng chiến đấu ba thứ quân kể trên là một trận hiệp đồng tuyệt vời, lập nên chiến công đầu trong trang sử vàng truyền thống đánh máy bay của quân dân Yên Bái, mở ra khả năng phát động toàn dân tham gia bắn máy bay giặc Mỹ xâm lược.

Trận chiến đấu thứ hai được kể đến là một trận đánh ở địa bàn nông thôn miền núi thuộc các xã Minh Tân, Kim Sơn, Bảo Hà (huyện Bắc Yên)

Ngọn núi Tam Tổng nằm ở khoảng giữa 3 xã trên, có độ cao 1.380 mét, cả dãy núi là rừng cây rậm rạp và rừng vầu. Phía Nam, cách 500 mét có một quả đồi cỏ gianh và lúp xúp cây. Từ núi tới địa bàn 3 xã đều cách khoảng 6 đến 8 kilômét, không có đường mòn, chỉ có những lối mòn của nhân dân thường đi săn bắn.

Hồi 14 giờ 20 ngày 30 tháng 5 năm 1966 có 6 phi cơ phản lực Mỹ đến bắn phá dọc theo đường sắt và nhà ga thuộc xã Bảo Hà. Đơn vị pháo cao xạ bảo vệ mục tiêu đánh trả mãnh liệt. Một F105 trúng đạn bốc cháy lao về hướng Bắc. Tên phi công nhảy dù xuống thung lũng ngọn núi Tam Tổng trong khi chiếc phi cơ lao theo quán tính đâm xuống gần thị trấn Phố Ràng, cách đường cái chừng 100 mét. Ba máy bay địch tháo chạy, còn 2 chiếc lượn liên tục ở độ cao khoảng 2000 mét quanh khu vực tên giặc lái nhảy dù, hòng uy hiếp tinh thần của bộ đội và dân quân đang tiếp cận vây bắt phi công.

15 giờ 10 phút có 4 chiếc AD6 bay đến quần đảo trên vùng núi Tam Tổng.

10 phút sau, 1 chiếc trực thăng từ phía Tây Nam đến lượn sà thấp ở khu vực Thượng Hạ. Rồi một trực thăng khác bay đến ngay nơi tên phi công nhảy dù. Nó lượn thấp gần sát ngọn cây với tốc độ chậm. Từ trên máy bay địch thả chiếc thang dây dài chừng 7, 8 mét kéo lê thê đi tìm kiếm tên giặc lái dưới đất.

Gặp sự đánh trả mãnh liệt của dân quân chiếc trực thăng phải nâng độ cao, vòng đi vòng lại, rồi cúp đuôi chuồn thẳng vào lúc 17 giờ. Bọn F106 và AD6 đảo lại một vòng, ném ba quả bom sang dãy đồi phía Nam, bắn một loạt đạn 20 ly rồi cũng bỏ chạy.

Phía ta, ngay thoạt đầu dân quân hai xã Minh Tân và Kim Sơn đã có hơn 30 người kéo tới vùng giặc lái nhảy dù. Chính lực lượng này đã trực tiếp uy hiếp được chiếc trực thăng mang thang dây, khiến nó hoảng hốt vọt lên cao.

Các đồng chí ở Huyện Đội, cách khoảng 20 kilômét nhận được báo cáo của Bảo Hà. Huyện đội trưởng và một cán sự của Huyện Đội liền chạy bộ trong lúc máy bay địch quần lượn bắn phá. Các anh tới nơi lúc 20 giờ.

Máy bay địch đã rút. Huyện Đội và Bí thư Huyện uỷ, Bí thư chi bộ xã Minh Tân cùng một số đồng chí khác đã hội ý và thống nhất nhận định: Ngày mai ít có khả năng máy bay địch đến cứu phi công vì diễn biến buổi chiều rất quyết liệt, chúng đã bỏ rất nhiều công sức, bị giáng trả khắp nơi, chúng yên trí đồng đội đã bị bắt.

Còn tên phi công theo qui luật sẽ trốn chạy theo hướng Tây đó là hướng máy bay địch thường đến cứu. ở địa bàn Tam Tổng hướng Tây bị đường xe lửa và sông Hồng ngăn lối. Hướng Đông thì đông dân cư. Nó chỉ có thể đi lên hướng Bắc, Tây Bắc, hướng Nam đã bị ta vây chặt.

Huyện quyết tâm huy động thêm lực lượng tổ chức khép vòng vây, kiên quyết bắt sống tên phi công.

- Xã Minh Tân được tăng cường thêm 1 tiểu đội của xã Thượng Hà vây từ Bắc sang Đông Bắc.

- Xã Kim Sơn được tăng cường 1 tiểu đội của xã Cam Cọn, bao vây lùng sục đoạn từ Bắc sang Tây Bắc về Tây Nam.

- Cử một bộ phận nhỏ đón ở phía Đông Nam thung lũng.

- Mỗi xã có một tổ bố trí trên đồi cao vừa quan sát vừa sẵn sàng đánh máy bay đến ứng cứu.

- Chỉ huy sở đặt tại đỉnh núi cách thung lũng 400 mét về phía Bắc.

Tất cả các bộ phận phải thường xuyên giữ vững liên lạc với nhau.

4 giờ 30 sáng 31 tháng 5 năm 1966 Huyện Đội trưởng bắn một phát súng lệnh, các lực lượng bắt đầu bước vào cuộc truy lùng.

Với một thế trận nhân dân dày đặc, với cách truy lùng cụ thể, tỉ mỉ, trong vòng chưa đầy hai tiếng đồng hồ, tên giặc lái đã bị trói gọn cùng với điện đài và các phương tiện thông tin khác.

Lúc đó là 6 giờ 10 ngày 31 tháng 5 năm 1966. Chiến tranh là sự thử thách cao nhất và trực tiếp nhất với một chế độ xã hội, với lực lượng xung kích trẻ tuổi của chế độ. Trong chiến đấu, quân dân và tuổi trẻ Yên Bái - Nghĩa Lộ đã dũng cảm mưu trí, thắng lớn. 99 máy bay địch bị hạ, nhiều phi công Mỹ bị bắt sống, trong đó có thiếu tá không quân Jêm Cát-lơ. Tiêu biểu cho phong trào chống Mỹ cứu nước là xã Cát Thịnh (Văn Chấn) đã được Nhà nước tuyên dương Anh hùng Lực lượng Vũ trang.

*
*   *

Trong khói lửa của cuộc chiến tranh ác liệt, tuổi trẻ Yên Bái - Nghĩa Lộ không chỉ đi đầu trong chiến đấu mà còn là lực lượng xung kích trong kinh tế - xã hội.

Trong sản xuất nông nghiệp, mỗi xã viên thực sự là một chiến sĩ tay cày, tay súng. Lao động đồng ruộng thường phải làm ban đêm. Những hạt lúa vàng giành được bằng mồ hôi xương máu trên những cánh đồng "Thâm canh thắng Mỹ", "Năm tấn thắng Mỹ", ngoài việc để nuôi quân dân trong tỉnh, còn dành hàng ngàn tấn gửi tới miền Nam ruột thịt. Hợp tác xã Cao Đa (Bắc Yên) được công nhận là hợp tác xã điển hình về năng suất lúa và chăn nuôi đầu tiên ở các tỉnh miền núi. Thanh niên xã Sàng Đô - Văn Chấn và chủ nhiệm HTX Thào A Giàng có sáng kiến rời bản cao xuống định cư vùng thấp để trồng chè và làm ruộng bậc thang. Thào A Giàng được phong Anh hùng Lao động và được gặp Bác Hồ tại Đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua chống Mỹ cứu nước tháng 12/1966 ở Hà Nội.

Nhiều phong trào đã được tuổi trẻ và các em thiếu nhi cũng như toàn dân Yên Bái - Nghĩa Lộ thực hiện suốt thời chống Mỹ. Như "Ba sẵn sàng" của tuổi trẻ, "Ba đảm đang" của phụ nữ, "Ba giỏi" của các cụ phụ lão, "Nghìn việc tốt của thiếu nhi". Đặc biệt còn có phong trào "Trâu là bạn quí, Mỹ là kẻ thù" được khởi xướng từ Đại Phác (Văn Yên)...

Những công nhân "tay búa, tay súng" thi đua sản xuất các mặt hàng thiết yếu cho sản xuất nông nghiệp và đời sống thường ngày, bước đầu thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ "hậu cần tại chỗ".

Tất cả các huyện và hầu hết các HTX đều có xưởng cơ khí, tổ lò rèn để sản xuất công cụ. Xưởng cơ khí của tỉnh Yên Bái được mở rộng và giữ vai trò quan trọng trong xây dựng và phát triển kinh tế địa phương.

Vượt lên trên bom đạn, hy sinh, thiếu thốn, với tinh thần "địch phá ta sửa ta đi" các đơn vị công binh, thanh niên xung phong và cán bộ các ngành giao thông đã kiên trì bám trụ, ngày đêm rà phá bom mìn, san lấp hố bom, khắc phục mọi hậu quả do bom đạn Mỹ phá hoại, nâng cấp 315 kilômét đường trục, 944kilômét đường nông thôn, bảo đảm giao thông thông suốt để phục vụ chiến đấu, sản xuất và đời sống. Năm 1967, ngành giao thông của tỉnh được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba.

Chỉ trong một thời gian ngắn đã có trên ba ngàn chiến sĩ trẻ tình nguyện lên đường vào Nam chiến đấu. Đó là các tiểu đoàn Yên Ninh I, Yên Ninh II, Yên Ninh III lần lượt lên đường.

Nhiều thanh niên đạt thành tích cao trong sản xuất và chiến đấu tiêu biểu như đảng viên - đoàn viên Bùi Quang Tảo phụ trách Đoàn cơ khí Yên Bái đã được khen thưởng về thành tích chiến đấu. Đảng viên - đoàn viên Trần Thị Lan được Bác Hồ khen về thành tích bảo dưỡng cầu đường. Y tá Nguyễn Thị Xuân Thi được kết nạp Đảng ngay tại mặt trận...

Điểm lại một vài thông tin trên trang nhất tờ báo Yên Bái số ra ngày 25 tháng 7 năm 1966 đã sẽ thấy không khí hào hùng và tinh thần bình tĩnh, ung dung của tuổi trẻ cùng với quân và dân Yên Bái một thời. "Ngày 21-7-1966 quân dân tỉnh ta đã bắn tan xác một máy bay phản lực Mỹ... Chiếc máy bay này rơi tại chỗ, tên giặc lái máy bay Mỹ phải đền nợ máu.

Tin thêm cho biết ngày 6-7 quân dân tỉnh ta cũng bắn rơi 1 máy bay phản lực Mỹ. Chiến công vẻ vang ngày 21 và 6-7 đã nâng tổng số máy bay Mỹ bị bắn rơi ở tỉnh ta lên 59 chiếc". "Lời kêu gọi cùng lệnh động viên cục bộ của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã nhanh chóng phổ biến tới khắp nơi trong tỉnh....

Trong 2 ngày 18 và 19 - 7 - 1966 trên 1500 đoàn viên và thanh niên các cơ quan trong tỉnh, thanh niên và đoàn viên các xã Tân Thành, Đồng Tâm v.v... đã họp mít tinh tại nhiều địa điểm để tỏ rõ quyết tâm làm theo lời dạy của Hồ Chủ tịch...Tỉnh Đoàn Thanh niên Yên Bái cũng đã phát động phong trào "thanh niên mở hội ghi tên tòng quân đánh Mỹ cứu nước"..."

Ngay bên cạnh đó là bài "Khắp nơi trong tỉnh sôi nổi làm mùa" với những tin tức sau: "Trong việc làm mùa nhiều hợp tác xã đặc biệt chú trọng tới khâu kỹ thuật, hợp tác xã Vĩnh lạc (Lục Yên) đã bón lót được 7 tấn một hécta. Hợp tác xã Phú Cường xã Xuân long (Yên Bình) đã chuẩn bị một số lượng vôi 1 tấn 8 để cải tạo những chân ruộng bạc màu, toàn xã đang có phong trào sạch làng tốt ruộng để có nhiều phân tốt bón cho vụ mùa.

Xã Xuân ái, huyện Văn Yên đã hăng hái thi đua cày sâu bừa kỹ, đã nêu khẩu hiệu "ruộng ngâm chưa đủ, tranh thủ làm rất nhiều phân". Đặc biệt xã Đại Phác (Văn Yên) trong vụ mùa này đã tổ chức được 20 tổ giữ trẻ để chị em bận con mọn có thể tham gia lao động nhiều hơn".

*
*   *

Tết Mậu Thân 1968, quân và dân miền Nam đồng loạt tổng tiến công và nổi dậy đánh vào các thành phố, thị xã quận lỵ, sân bay, căn cứ, sở chỉ huy của Mỹ - Nguỵ. ở Sài Gòn ta đã tấn công vào các cơ quan đầu não của địch, như toà Đại sứ Mỹ, Bộ Tổng tham mưu nguỵ, Tổng Nha cảnh sát, đài phát thanh..., giáng cho địch những đòn chí tử, làm rối loạn và tan rã từng mảng lớn lực lượng của chúng.

Tin tức dội nhanh về Mỹ, gây chấn động mạnh mẽ trong các tầng lớp nhân dân, khiến chính giới Mỹ choáng váng. Trước sức ép nặng nề từ nhiều phía, chính quyền Giôn-xơn đã buộc phải thay đổi chiến lược ở Việt Nam.

Ngày 31 tháng 3 năm 1968, Giôn-xơn tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra và chấp nhận cử phái đoàn dự đàm phán ở Pa-ri.

Cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ ra miền Bắc nước ta đã chấm dứt. Đây là một thất bại nặng nề về chiến lược của đế quốc Mỹ và là thắng lợi mang tầm vóc lớn lao của quân và dân ta.

Dẫu cùng với tuổi trẻ và nhân dân toàn miền Bắc, tuổi trẻ và nhân dân Yên Bái phải chịu nhiều hy sinh mất mát, nhưng Yên Bái và Nghĩa Lộ vẫn được bảo vệ vững vàng qua bom đạn, tiếp tục bước trên con đường cách mạng của cả dân tộc.

               IV. Khôi phục và đẩy mạnh xây dựng kinh tế, tích cực chi viện cho miền nam và đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ (1969 - 1975).

Vừa đàm vừa đánh, quân dân hai miền tiếp tục giành thắng lợi toàn diện trên các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao. Ngày 1 tháng 11 năm 1968 Tổng thống Mỹ Giôn-xơn buộc phải tuyên bố chấm dứt hoàn toàn việc ném bom, bắn phá và mọi hành động chống phá nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nhận họp Hội nghị Pa-ri để giải quyết vấn đề chiến tranh Việt Nam.

Ngày 3 tháng 11 năm 1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước anh dũng tiến lên đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược "Hễ còn một tên xâm lược nào trên đất nước ta thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu quét sạch nó đi".

Tháng 3 năm 1969, Bộ Chính trị Đảng ta khẳng định: Miền Nam chưa được giải phóng, cuộc đọ sức ta - địch còn quyết liệt thì miền Bắc chưa có hoà bình thực sự, phải nắm lấy cơ hội, tranh thủ thời gian khôi phục kinh tế, tăng cường xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật làm cho miền Bắc nhanh chóng lớn mạnh, đáp ứng nhu cầu to lớn của tiền tuyến miền Nam.

Nhằm cụ thể hoá Nghị quyết của Bộ Chính trị, Tỉnh uỷ Yên Bái, Nghĩa Lộ đã vạch kế hoạch của năm 1969 là nhanh chóng khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ lần thứ nhất, tập trung sức sản xuất, trọng tâm là sản xuất nông nghiệp, nhằm đảm bảo lương thực, thực phẩm phục vụ đời sống và quốc phòng, đồng thời thực hiện một bước Điều lệ HTX sản xuất nông nghiệp bậc cao.

Tuổi trẻ lại là lực lượng đi đầu trong việc khắc phục hậu quả chiến tranh. Đó là một hậu quả rất nặng nề.

Chỉ tính vùng thị xã Yên Bái đã bị đánh phá có tính chất huỷ diệt. 10.172 lần/chiếc máy bay với 3.396 lần/tốp đã đánh phá 604 mục tiêu thuộc thị xã, thị trấn, công trường... Chúng sử dụng 17.953 bom phá, 866 bom nổ chậm, 96 bom từ trường, 33 bom lân tinh, 18.607 quả rốc két, 197.960 quả bom bi, 302 tên lửa, 633 lần bắn đạn 20mm, phá sập 50 cầu, phá huỷ các nhà ga, trên 50km đường sắt bị cắt đoạn, rất nhiều các cơ sở công cộng, đường xá và nhà ở bị tàn phá.

Ngay ở huyện Văn Yên, nằm trên tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai, cũng bị tàn phá nặng nề. Tính từ 10/7/65 đến 31/3/1968, không quân Mỹ đã 1.415 lần (có 245 lần ban đêm) xâm phạm vùng trời Văn Yên. Đánh phá 186 lần (có 60 lần ban đêm)... Chỉ tính từ 1/11/66 đến 20/9/67 máy bay đánh 94 điểm, thả 929 quả bom nổ tức thì, 8 quả chờ nổ, 8 thùng bom bi, 75 bom phá. Chúng đã phá hỏng, đốt cháy 5 chiếc cầu, 8560 mét đường, 850 mét đường dây điện, 37 mẫu lúa, 53 nhà cửa, 5,2 tấn thóc cùng nhiều hoa màu, gia súc, gia cầm...

Những đội thanh niên xung kích khắp thành thị, nông thôn, vùng núi cao đều hăm hở lao vào công việc khắc phục hậu quả chiến tranh và phục hồi kinh tế.

Trên mặt trận nông nghiệp, tuổi trẻ cùng với làng xóm đã tập trung mở rộng diện tích trồng lúa và hoa màu, thâm canh cây lúa, qui hoạch vùng lúa trọng điểm ở các huyện Văn Chấn, Trấn Yên, Yên Bình, Lục Yên. Vùng qui hoạch đạt năng suất 5 tấn/ha, các vùng khác đạt từ 3,5 đến 4 tấn/ha. Vì vậy tổng sản lượng lương thực năm 1969 tăng 8% so với năm 1968. Việc chăn nuôi trâu bò, lợn, dê được khuyến khích ở các vùng có tập quán chăn nuôi như Bảo Yên, Lục Yên, Văn Chấn...

Cùng với những công việc kể trên, công việc an ninh quốc phòng toàn tỉnh càng được chú ý hơn, trong đó có việc tuyển quân không ngừng chi viện cho miền Nam. Tiểu đoàn Yên Ninh IV, một trong những tiểu đoàn có quân số cao nhất, được thành lập và đã lên đường bổ sung cho chiến trường miền Nam.

Giữa lúc công cuộc khôi phục kinh tế ở miền Bắc đang đẩy mạnh, ở miền Nam quân và dân ta từng bước làm phá sản kế hoạch "Việt Nam hoá chiến tranh" của Mỹ, thì Chủ tịch Hồ Chí Minh, người Bác kính yêu của tuổi trẻ đã tạ thế hồi 9 giờ 47 phút ngày 2 tháng 9 năm 1969 tại Hà Nội, để lại cho nhân dân ta bản Di chúc thiêng liêng thể hiện tình cảm thắm thiết rộng lớn của người đối với Đảng, với nhân dân và tuổi trẻ.

Ngày 7 tháng 9 năm 1969 hơn 20.000 quân dân và tuổi trẻ Yên Bái - Nghĩa Lộ đã dự lễ truy điệu trọng thể Chủ tịch Hồ Chí Minh do tỉnh tổ chức.

Thực hiện Chỉ thị của TW Đảng, Đảng bộ Yên Bái - Nghĩa Lộ đã tổ chức triển khai đợt sinh hoạt chính trị "Học tập và làm theo Di chúc" của Bác Hồ rộng khắp và phát động phong trào thi đua lao động sản xuất, chiến đấu giỏi, lập công đền ơn Bác.

Thực hiện Di chúc thiêng liêng của Bác, tuổi trẻ Yên Bái đã biến đau thương thành sức mạnh, tiến công vào mặt trận kinh tế, xây dựng đời sống văn hoá, xây dựng một cuộc sống tốt đẹp khắp các cơ sở.

Tháng 1 năm 1970, tại Đại hội Đại biểu Đảng toàn tỉnh lần thứ VI, đồng chí Đoàn Viết Trí tham gia Ban Chấp hành Tỉnh uỷ được phân công tiếp tục làm Q. Bí thư Tỉnh Đoàn (có NQ).

Đầu năm 1970, thể theo nguyện vọng của Đoàn Thanh niên, nhân dịp kỷ niệm 4 năm thành lập Đảng - 3-2-1970 - BCH TW Đảng đã ra nghị quyết cho Đoàn Thanh niên và Đội Thiếu niên, Đội Nhi đồng được mang tên Bác.

Sau khi làm lễ đổi tên từ cấp tỉnh tới các cơ sở, phong trào hoạt động Đoàn càng sôi nổi và có hiệu quả hơn. "Sống chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại" trở thành nguyện vọng của mỗi đoàn viên, mỗi người trẻ tuổi Yên Bái - Nghĩa Lộ. Lúc này, ngoài những nhiệm vụ thường xuyên, Đoàn Thanh niên còn cáng đáng nhiệm vụ vận động việc định canh, định cư kết hợp với hợp tác hoá nông nghiệp.

Tỉnh đã chọn 5 xã làm thí điểm, sau đó cuộc vận động đã tiến hành ở 28 hợp tác xã thuộc 6 huyện, thu hút gần 5000 người, đạt 97,3% tổng số nhân khẩu vùng cao.

Nhiều HTX ở Nghĩa Sơn (Văn Chấn) hầu hết là đồng bào Khơ Mú (còn gọi là người Xá) thường sống du canh, du cư rải rác trên các sườn núi, đời sống rất cực nhọc, thiếu thốn. Nhờ định canh, định cư và xây dựng HTX theo hướng trồng rừng, trồng chè kết hợp cây lương thực và chăn nuôi nên hợp tác xã phát triển, có nhiều công trình phúc lợi, đời sống đồng bào đã cải thiện một bước dài.

Đến năm 1970, Yên Bái đã xây dựng và củng cố 288 HTX nông nghiệp bậc cao, thu hút gần 30 ngàn hộ, chiếm 98,68% số hộ nông nghiệp toàn tỉnh. Tuổi trẻ hai tỉnh Yên Bái, Nghĩa Lộ còn đi đầu trong việc đưa vào qui hoạch các vùng kinh tế của tỉnh. Như vùng rừng khai thác lâm sản và trồng rừng đầu nguồn là Văn Bàn, Than Uyên, Mù Căng Chải; vùng nguyên liệu giấy sợi, cây công nghiệp và cây lương thực là Văn Yên, Trấn Yên, Văn Chấn; vùng chuyên canh cây lương thực, chăn nuôi gia súc lớn và nghề cá là Yên Bình, Văn Chấn, Bảo Yên, Lục Yên.

Các vùng kinh tế đã sớm phát huy được thế mạnh, đảm bảo diện tích cây trồng, đi vào thâm canh tăng vụ cây trồng, vật nuôi... Ví dụ như chè ở Nậm Búng, Suối Giàng, Mường Khoa, Mường Mít, Thân Thuộc (Nghĩa Lộ), quế ở Văn Yên...

Năm 1970, còn có Đại hội Thanh niên Ba sẵn sàng, hơn 400 đại biểu đã về họp Đại biểu xuất sắc tại hang đá, xã Minh Xuân, Lục Yên. Tỉnh Đoàn đã tặng huy hiệu Ba sẵn sàng cho các đại biểu cùng nhiều hình thức khen thưởng của Trung ương Đoàn và Tỉnh Đoàn dành cho các tổ  chức Đoàn và các đoàn viên thanh niên có nhiều thành tích trong phong trào.

Năm 1970, tổng sản lượng lương thực của Yên Bái - Nghĩa Lộ đạt 95.648 tấn. Riêng Yên Bái có 1 huyện, 57 HTX và 400 đội sản xuất đạt 5 - 6 tấn lương thực/ha. Phong trào trồng cây gây rừng và Tết trồng cây đã tạo ra nhiều "Đồi cây đời đời ơn Bác", "Vườn quả Bác Hồ". Năm 1972 hai tỉnh Yên Bái, Nghĩa Lộ có 60 ngàn trâu, 15 ngàn bò...

Các mặt kinh tế - xã hội khác như công nghiệp, thương nghiệp, tài chính, giao thông vận tải, đầu tư xây dựng, giáo dục, bưu điện, văn hoá văn nghệ, thể thao... đều có những bước tăng trưởng mạnh mẽ.

Cuối năm 1969, 100% số xã có trạm xá, nhà hộ sinh. Số bệnh viện tăng 8 lần, bác sỹ tăng 34 lần; y sỹ tăng 203 lần, hộ lý tăng 297 lần so với năm 1955. Tất cả các thành tích kể trên đều có sự đóng góp hàng đầu của các bạn trẻ dù là đảng viên, đoàn viên hay thanh niên. "... Một năm qua được mang tên Bác, thanh niên tỉnh ta lại có 26 ngàn lá đơn đăng ký "3 sẵn sàng", "3 đảm đang", hàng trăm người đã nô nức tòng quân... Người Mèo, người Xa Phó, Dao Quần Trắng, Cao Lan, người Tày, người Nùng đã tiếp tục lên đường giết giặc"(1). "Trong đội nữ dân quân Trúc Lâu, dân tộc Tày gồm 29 chị em thì 14 chị đã có chồng đi bộ đội, thế mà vẫn tham gia tập quân sự đầy đủ, các môn đều đạt giỏi và khá, nhiều chị em lại đạt từ 280 đến 300 ngày công, làm được từ 3000 đến 4000 kg phân như các chị Yến, Chói, ý, Thuấn, Ân v.v..." "Các nơi từ vùng cao Văn Bàn núi rừng trùng điệp đến vùng thấp Yên Bình, Trấn Yên đã làm nên các đồi chè, đồi Sở "Nhớ ơn Bác" "Năm qua Thanh niên đã làm 533 cánh đồng với 1853 công mẫu để phấn đấu đạt 5 tấn, chi đoàn Đại Phác, Mậu A đã cùng các hợp tác xã phấn đấu giành cho toàn xã mình đạt 6 tấn thóc một hécta". "Chi đoàn vùng cao Minh An (dân tộc Dao Nga Hoàng) 8 tháng trời vừa lao động khai hoang ra 18 mẫu ruộng để đón đồng bào xuống núi định canh, định cư, vừa ra sức học tập lên được hai lớp văn hoá".

"Toàn tỉnh đã có 330 thanh niên làm từ 4000kg phân trở lên. Đạt danh hiệu Dũng sĩ thắng Mỹ. Các huyện Văn Yên, Trấn Yên là nơi có phong trào làm phân hăng hái nhất, có nhiều dũng sĩ nhất... Xuân ái, Yên Hưng, Mậu A (huyện Văn Yên) đạt bình quân 4.000kg phân trở lên, Hưng Khánh, Minh Quán (Trấn Yên) đạt bình quân từ 3.700kg trở lên.... Ở Yên Hưng có các đồng chí đoàn viên đạt 6.000kg trở lên trong một thời gian ngắn như Trần Thị Hoà, Nguyễn Văn Hoàng, Nguyễn Thị Thuỷ. ở Hưng Khánh các chị Hà Thị Hợp, Hà Thị Hoà đã đạt trên 5 tấn"(2). "Ngoài việc thi đua lao động sản xuất trong hợp tác xã, Huyện Đoàn Yên Bình còn huy động gần 900 đoàn viên thanh niên nhận làm công trình giao thông mang tên "40 năm" đắp mới, rải đá, tu sửa hàng chục cây số.

Mặc dù gặp mưa rét trong cả quá trình lao động nhưng anh em đã thi đua phấn đấu đạt năng suất 108% các xã như Ngọc Chấn, Mỹ Gia, Yên Thành, Phúc An, Thịnh Hưng, Phú Thịnh đã đạt từ 109 đến 129%"(1).

Đầu năm 1971, Đại hội Đoàn toàn tỉnh lần thứ IV (nhiệm kỳ 1971 - 1976) được tổ chức tại Hội trường cơ quan Tỉnh Đoàn (xóm Hố Tre, xã Tấn Thịnh, huyện Trấn Yên - Km 11), có 250 đại biểu của các cơ sở Đoàn. Đồng chí Nguyễn Ngọc Cừ, Bí thư Tỉnh uỷ tới dự và Chỉ thị cho Đại hội, Đại hội đã tổng kết công tác Đoàn nhiệm kỳ Đại hội III, đề ra mục tiêu nhiệm vụ cho nhiệm kỳ tới và bầu ra Ban Chấp hành mới. Ban Chấp hành đã bầu ra Ban Thường vụ gồm 5 đồng chí. Đồng chí Đoàn Viết Trí - Bí thư, đồng chí Lê Quốc Chấn - Phó bí thư, đồng chí Địch Ngọc Lân - Phó bí thư và 2 uỷ viên Thường vụ là Phạm Ngọc Thuý, Hoàng Thị Cương.

*
*   *

Trong lúc tuổi trẻ và nhân dân Yên Bái - Nghĩa Lộ nỗ lực phấn đấu để xây dựng kinh tế - xã hội và đời sống vẫn không lơ là mất cảnh giác với âm mưu phá hoại của bọn Mỹ. Ngừng đánh phá nhưng máy bay Mỹ vẫn thường xuyên bay dò thám các khu vực nhà máy thuỷ điện Thác Bà, sân bay Yên Bái. Các đơn vị trực chiến của ta vẫn kiên trì theo dõi mọi hoạt động của địch.

Bị thua đau ở miền Nam, một lần nữa đế quốc Mỹ lại huy động hàng ngàn máy bay phản lực hiện đại nhất đánh phá nhiều nơi ở miền Bắc, bắt đầu từ đầu tháng 4 năm 1972.

Ngày 12 tháng 5 năm 1972, 8 máy bay F4 đánh phá khu vực Cầu Bùn (Bảo Hà) mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ II ở địa phương. Nhân dân các dân tộc Yên Bái, Nghĩa Lộ đã sẵn sàng. Tuổi trẻ địa phương lại làm nòng cốt trong các lực lượng chiến đấu.

Ngày 24 tháng 6 năm 1972, quân và dân xã Mường Do (Phù Yên) đã anh dũng, mưu trí bắn rơi tại chỗ 1 máy bay F111, bắt sống giặc lái. Chiến công đầu của đợt này đã dấy lên trong toàn tỉnh một phong trào thi đua sôi nổi quyết tâm diệt trừ máy bay giặc.

Thời gian này địch tập trung đánh phá các mục tiêu như sân bay Yên Bái, cầu Nga Quán, ngoại vi thị xã Yên Bái và đặc biệt là khu vực Cầu Bùn (Bảo Hà). Lực lượng vũ trang của tỉnh phối hợp với dân quân tự vệ tạo thành thế trận vững chắc, thành một khối lửa phòng không đầy uy lực. Hàng loạt máy bay F4, F11E và 1 máy bay trinh sát không người lái đã tan xác trên bầu trời Yên Bái, góp phần vào chiến công chung của miền Bắc, đập tan sự liều lĩnh cuối cùng của lũ diều hâu đế quốc Mỹ, đập tan những phương tiện kỹ thuật hiện đại nhất trong tay lũ người vốn vẫn ỷ vào sức mạnh vũ khí để đi xâm lược nước người. Nhưng bọn Mỹ vẫn muốn thương lượng trên thế mạnh và chúng chỉ chịu ngồi vào bàn đàm phán sau thất bại nặng nề của "Điện Biên Phủ trên không" cuối tháng 12 năm 1972 ở Hà Nội.

7 giờ ngày 30 tháng 12 năm 1972, chính phủ Mỹ phải tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra. Ngày 27 tháng 1 năm 1973, đế quốc Mỹ buộc phải chính thức ký vào bản Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam, phù hợp với những yêu cầu cơ bản của ta.

Trải qua 7 tháng vừa sản xuất vừa chiến đấu, tuổi trẻ cùng với quân và dân các dân tộc Yên Bái, Nghĩa Lộ đã bắn rơi 15 máy bay Mỹ, bảo đảm ổn định đời sống xã hội, tăng cường củng cố một bước về an ninh quốc phòng.

*
*   *

Bước vào những năm hoà bình xây dựng 1973 - 1975 và tiếp tục tăng cường chi viện cho miền Nam ruột thịt, tuổi trẻ Yên Bái - Nghĩa Lộ đã thực hiện tốt các chủ trương lớn của Trung ương Đoàn và sự lãnh đạo chỉ đạo cụ thể của Đảng uỷ Yên Bái - Nghĩa Lộ, vượt qua muôn vàn khó khăn, giành nhiều thắng lợi trên các mặt trận sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng cơ bản, xây dựng và phát triển văn hoá - xã hội.

Sản xuất nông - lâm nghiệp vốn là mặt trận hàng đầu, với chủ trương tập trung sản xuất cây lương thực, chú ý đẩy mạnh công nghiệp, trồng rừng và phát triển đàn gia súc.

Căn cứ vào điều kiện đất đai, khí hậu, thời tiết của từng vùng, theo qui hoạch của tỉnh, tuổi trẻ đã đi đầu trong việc củng cố các vùng chuyên canh lớn, như chè ở Văn Chấn, Trấn Yên; quế ở Văn Yên, Văn Bàn, cây có dầu như trẩu, sở, lai ở Yên Bái, cây đen ở Nghĩa Lộ.

Tỉnh đã tăng thêm 120ha quế, 248ha mía, 6.870ha chè, trong đó có 3100ha đã cho thu hoạch, đạt năng suất 27 tạ chè búp tươi/ha, sản lượng 9.400 tấn, cung cấp cho các nhà máy chế biến chè.

Đến năm 1974, Yên Bái - Nghĩa Lộ có đàn trâu 67 ngàn con, bò 16 ngàn, lợn 164 ngàn, phần nào đáp ứng được nhu cầu về sức kéo, hoàn thành nghĩa vụ đối với Nhà nước, góp phần cải thiện đời sống nhân dân.

Năm 1975, Yên Bái - Nghĩa Lộ đã có trên 660 HTX, trong đó trên 530 là hợp tác xã có qui mô bậc cao. Cùng năm, thêm nhiều nhà máy xí nghiệp, hợp tác xã thủ công nghiệp ra đời, tạo nên một nguồn sức mới trong phát triển kinh tế địa phương. Nhà máy chè Trần Phú công suất 40 tấn/ngày, nhà máy chè Yên Ninh công suất 13 tấn/ngày, các xí nghiệp cơ khí, bánh kẹo, đường, rượu, giấy, các cơ sở thủ công như mộc xẻ, mây tre đan cũng đi vào hoạt động.

Mồ hôi và công sức của tuổi trẻ trên khắp các tuyến đường xây dựng tỉnh đã làm ra trên 300kilômét đường mới, sửa chữa gần 3000 kilômét đường nông thôn, sửa chữa nhiều cầu cống, làm xong cầu cáp An Lâu, cầu Đá Trắng (Yên Bái), bắc 64 cầu nhỏ và lắp 117 cống các loại. Hàng năm, gần 850 ngàn tấn hàng hoá và 73 ngàn lượt người đã được giao lưu vận chuyển trên đường.

Tỉnh xây dựng 205 hệ thống loa truyền thanh xuống các xã. Hàng buổi, tiếng nói của lãnh đạo, chủ trương của Nhà nước, của địa phương, tin chiến thắng miền Nam được chuyển nhanh tới từng xóm làng vừa tạo thêm không khí đầm ấm vui vẻ mà cũng tạo nên điều kiện cho cách làm ăn mới, cách nhìn nhận mới.

Trong những năm này, thanh niên huyện Trấn Yên đã đóng góp trên 10 vạn ngày công làm 20 kilômét đường giao thông, đắp đập chứa nước, khai hoang hoá 1.000 ha đất trống, xây dựng hàng vạn mét vuông nhà để đón đồng bào. Trong đó có hàng ngàn thanh niên Hà Nam Ninh lên xây dựng kinh tế mới ở Hưng Khánh, Hồng Ca, Việt Hồng, Quy Mông…1.069 hộ với 5210 nhân khẩu đã được đón tiếp và giúp tổ chức thành 22 HTX mới. Được sự giúp đỡ của tuổi trẻ và đồng bào địa phương, những người đi khai hoang lập nghiệp theo chủ trương phát triển kinh tế miền núi đã nhanh chóng đi vào ổn định và phát triển ban đầu.

Luôn nhớ đến miền Nam, đến Ninh Thuận và Gia Lai kết nghĩa, tuổi trẻ và nhân dân Yên Bái - Nghĩa Lộ phấn đấu thực hiện tâm niệm "tất cả cho tiền tuyến, tất cả để giải phóng hoàn toàn miền Nam". Từ chủ trương của Tỉnh uỷ, chỉ đạo thực hiện của Tỉnh Đoàn và Đoàn các cấp, tuổi trẻ Yên Bái từ các cơ sở đã biến ngày tòng quân lên đường đánh Mỹ thành ngày hội truyền thống của địa phương. Các tổ chức đoàn thể tạo các điều kiện giúp các gia đình có con em nhập ngũ thêm nhiều thuận lợi trong sản xuất và đời sống để con em họ yên tâm lên đường.

Trong ba năm 1971-1973, hai tỉnh đã huy động được trên 7.300 thanh niên tham gia quân ngũ. Riêng đầu năm 1975, do yêu cầu của chiến trường, gần 2000 thanh niên đã nhập ngũ, đáp ứng kịp nhu cầu cho cách mạng miền Nam. Chính họ đã góp phần không nhỏ vào cuộc Tổng tiến công mùa xuân - chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975.

Nhiều đoàn viên, thanh niên đã trưởng thành và được kết nạp vào Đảng trong bốn đợt "đảng viên lớp Hồ Chí Minh".

Trong phong trào Ba sẵn sàng của thời kì chống Mỹ cùng với khí thế chung của đoàn viên và thanh niên toàn tỉnh, cán bộ Đoàn các cấp luôn nêu cao tinh thần tiên phong, lời nói đi đôi với việc làm.

Tất cả cán bộ Ban Chấp hành Tỉnh Đoàn, Huyện Đoàn, xã Đoàn đều viết đơn tình nguyện sẵn sàng đi chiến đấu để làm gương cho hàng vạn đoàn viên và thanh niên noi theo. Ở Tỉnh Đoàn, các anh Nguyễn Văn Khoảng, chánh văn phòng, anh Hoàng Hải Lỵ dân tộc Nùng, anh Lương Xuân Đáy dân tộc Cao Lan đã xung phong nhập ngũ… chị Năm, chị Thuỷ vào thanh niên xung phong… anh Khoảnh, anh Lỵ đều đã hy sinh ở chiến trường.

Nhiều Bí thư xã Đoàn như anh Cương (xã Xuân Lai), anh Quang (xã Vũ Linh) cùng anh em tân binh nhập ngũ ra trận, chiến đấu dũng cảm và không bao giờ trở về nữa… Nhiều cán bộ nữ Tỉnh Đoàn, Huyện Đoàn có con mọn, đưa cả con cùng xoong nồi đi theo xuống nằm ở cơ sở để tổ chức học tập, phát động phong trào thanh niên cùng cơ sở làm bèo hoa dâu, chăm cánh đồng 5 tấn, cùng lên trận địa bắn máy bay địch, cùng ra hiện trường lấp hố bom địch vừa tàn phá.

Những tấm gương đó kể không sao hết, nó kết cùng với phong trào chung ở mọi cơ sở Đoàn làm nên một khúc tráng ca oanh liệt một thời. Một thời không bao giờ quên trong lớp lớp tuổi trẻ Yên Bái…

Đầu năm 1976, đồng chí Đoàn Viết Trí được điều sang làm Giám đốc Trường Đảng tỉnh. Đồng chí Địch Ngọc Lân nhận trọng trách: Quyền Bí thư Tỉnh Đoàn.

*
*   *

Ngày 30 tháng 4, chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng kết thúc 21 năm chiến đấu oanh liệt chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta. Sự kiện trọng đại đó đã cổ vũ động viên toàn tỉnh, động viên mỗi người dân, mỗi thanh niên tiếp tục bước vào thực hiện tốt nhiệm vụ của giai đoạn cách mạng mới.

Trong chặng đường từ 1954 đến 1975, nhất là trong 10 năm (1965-1975) các đơn vị hành chính ở Yên Bái và Nghĩa Lộ có nhiều thay đổi, không chỉ ở cấp xã, huyện mà ở cả cấp tỉnh, nhưng tinh thần chiến đấu ngoan cường và hăng say lao động sản xuất của tuổi trẻ và nhân dân tỉnh Yên Bái - Nghĩa Lộ mãi mãi toả sáng.

Cho đến ngày 27 tháng 12 năm 1975, kì họp thứ II Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã quyết định bỏ cấp Khu trong hệ thống các đơn vị hành chính của đất nước ta; Quyết định hợp nhất 3 tỉnh Lào Cai, Yên Bái và Nghĩa Lộ (trừ huyện Bắc Yên và Phù Yên nhập về tỉnh Sơn La) thành tỉnh mới Hoàng Liên Sơn. Từ đây tuổi trẻ và nhân dân Yên Bái - Nghĩa Lộ sống trong đại gia đình Hoàng Liên Sơn.

Chặng đường từ 1954 - 1975 dưới sự lãnh đạo của TW Đảng, của Khu uỷ Tây Bắc, Liên khu uỷ Việt Bắc và Ban Cán sự Lao - Hà - Yên, cùng với phương hướng lãnh đạo của TW Đoàn, lại được sự trực tiếp chỉ đạo của Tỉnh uỷ Yên Bái - Nghĩa Lộ, tuổi trẻ Yên Bái - Nghĩa Lộ đã đi đầu trong mọi nhiệm vụ cách mạng, góp phần đạt thành tựu to lớn: Xoá bỏ vĩnh viễn chế độ người bóc lột người, đoàn kết các dân tộc, từng bước phục hồi và phát triển kinh tế; Hai lần đánh thắng chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, ổn định và từng bước phát triển mọi mặt đời sống xã hội, từng bước cải thiện đời sống của toàn dân trong đó có đời sống của chính tuổi trẻ. Trên cơ sở đó, tổ chức Đoàn ngày càng mở rộng và được nâng cao uy tín trong xã hội.

Đây là một bước chuẩn bị cho những ngày xây dựng quê hương trong điều kiện mới của một nước Việt Nam thống nhất, của đoàn kết toàn dân tộc, của sự hợp sức tất cả tuổi trẻ trên toàn giang sơn nước Việt.



(2) Theo Lịch sử Đoàn TNCSHCM và phong trào thanh niên - NXB Thanh Niên 2005 - trang 181.

(1) Hồ Chí Minh - Về giáo dục thanh niên, NXB Thanh Niên 1980 - trang 166, 167.

(1) Theo tư liệu Lịch sử Đảng bộ tỉnh Yên Bái. tr 158.

(1) Lịch sử Đoàn TNCSHCM và phong trào thanh niên - NXB Thanh Niên - 2005, trang 201, 202.

(1) Lịch sử Đoàn TNCSHCM và phong trào Thanh niên Việt Nam - NXB Thanh Niên - 2005, trang 201, 202.

(2) Sđd, trang 202.

(1) Báo Yên Bái - 25/3/1971.

(2) Báo Yên Bái 25/6/1971.

(1) Báo Yên Bái - 25/3/1971.